Trang thơ Nguyễn Ngọc Hạnh


SÔNG LẶNG LỜ TRÔI, MÀ ANH ĐÂU RỒI

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 4, 2016

Vĩnh biệt nhạc sĩ Thái Nghĩa
SÔNG LẶNG LỜ TRÔI
MÀ ANH ĐÂU RỒI!

Nguyễn Ngọc Hạnh

Chỉ mới vừa đây thôi, chưa đầy vài tiếng đồng hồ khi tôi và nhà thơ Võ Kim Ngân đến Khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện C thăm nhạc sĩ Thái Nghĩa…Và, không ai ngờ đó là lần cuối cùng chúng tôi được anh cầm tay ấm áp, đầy xúc động.
Trước lúc chia tay anh, có một chi tiết nhỏ mà chị Thông, vợ nhạc sĩ cho biết, rất hiếm hoi khi thấy nụ cười của Thái Nghĩa trong thời gian điều trị gần đây, thế mà khi cậu con rể của anh cầm điện thoại đưa lên chụp ảnh, Thái Nghĩa bỗng cười vui như người mới vừa ốm dậy. Ai ngờ trong đôi mắt anh lóe lên một ánh nhìn đầy nghị lực mà dạt dào tình yêu mến ấy lại là giây phút cuối cùng khi nhìn những người thân đứng bên cạnh mình.

Tôi quen biết với Thái Nghĩa đã lâu, bao nhiêu cuộc chuyện trò văn nghệ thường diễn ra ở quán cà phê Long, đường Lê Lợi. Lúc chưa bị bệnh, nơi đây là điểm gặp gỡ của anh với anh em văn nghệ Đà Nẵng, có nhiều khi ngồi suốt buổi mà anh không nói gì, chỉ thi thoảng lại cầm chiếc điếu cày tự chế rít vài hơi rồi nhìn đường phố tấp nập người qua, với một nụ cười hiền lành đầy yêu mến. Anh sống với đời vừa nhẹ nhàng vừa dữ dội, đầy cá tính. Hết lòng với lớp nhạc sĩ đàn em, không ganh ghét hơn thua với đồng nghiệp, nhưng anh rất cương trực, không dung hòa với cái xấu, cái ác. Điều này qua lời kể chị Thông, có phải nhờ tính cách ấy mà suốt hơn một năm qua anh đã chiến đấu bền bỉ với căn bệnh hiểm nghèo bằng chính nội lực, khí tiết của mình.

Bốn mươi năm miệt mài cống hiến trên các lĩnh vực sáng tác, biên khảo, sưu tầm, nghiên cứu, lý luận, phê bình âm nhạc, nhạc sĩ Thái Nghĩa đã trở thành cái tên quen thuộc với làng nhạc, làng báo và công chúng cả nước. Có lần, anh tâm sự với tôi, đối với người sáng tác thì vốn sống, sự trải nghiệm cộng với ý chí tích lũy từ tình yêu cuộc đời…sẽ mang lại thăng hoa trên những nốt nhạc, và ca từ đẹp cũng từ đó mà ra. Rồi đây nhiều người sẽ còn nhắc nhiều về anh, một nhạc sĩ đã có nhiều đóng góp cho hoạt động âm nhạc không chỉ của địa phương mà của cả nước, đặc biệt là mảng âm nhạc thiếu nhi và miền núi quê mình.
Trong làng nhạc Đà Nẵng, không mấy ai gắn bó nhiều với âm nhạc đồng bào miền núi như Thái Nghĩa. Nhà thơ Võ Kim Ngân nhớ lại, Thái Nghĩa hồi còn trẻ khi mới về công tác tại Đài Phát thanh tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, năm 1978, anh được phân công đi xây dựng Đài Truyền thanh miền núi huyện Phước Sơn. Thái Nghĩa vừa làm nhiệm vụ xây dựng Đài, vừa sáng tác, vừa sưu tầm văn nghệ dân gian. Từ đó, những làn điệu, những nhạc cụ giản đơn mà tinh tế của đồng bào miền núi ở Phước Sơn và những địa bàn mà anh có dịp đi qua cứ khiến anh mê mẩn. Thái Nghĩa đã dành một thời gian dài đi khắp núi rừng Quảng Nam – Đà Nẵng để thực hiện những công trình nghiên cứu về âm nhạc của các đồng bào nơi đây.
Nhạc sĩ Nguyễn Huy Hùng, người bạn cùng thời đầu tiên với Thái Nghĩa trong hoạt động âm nhạc ở Đà Nẵng cho biết, Nghĩa vẫn luôn tâm niệm, tìm hiểu đời sống tinh thần nói chung, đời sống âm nhạc đồng bào miền núi nói riêng chính là hành trình tìm về cội nguồn, về với hồn dân tộc. Nghệ thuật âm nhạc của đồng bào các dân tộc ở Quảng Nam và Đà Nẵng đã góp phần không nhỏ trong kho tàng văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhưng do những yếu tố khách quan, hầu như chưa có ai theo đuổi việc nghiên cứu này đến cùng. Nhạc sĩ Thái Nghĩa không chỉ có công sưu tầm, nghiên cứu, truyền bá mà anh còn góp nhiều ký âm, đặt lời, dịch ra tiếng Kinh những làn điệu gắn với đời sống của đồng bào các dân tộc Giẻ triêng, Xơ-đăng, Cơtu…
Chính từ cái vốn tích lũy quý giá ấy đã trở thành nguồn cảm hứng đặc biệt trong sáng tác của Thái Nghĩa. Trong hơn 100 ca khúc của anh, Thái Nghĩa đã dành sự ưu ái đặc biệt đối với đời sống đồng bào các dân tộc vùng cao, đặc biệt là các em nhỏ miền núi như: Niềm vui phố núi, Đường dây qua quê em, Mẹ cấy giữa mùa vui, Miền núi nhắn về, Tổ khúc Hoa rừng tặng những bé ngoan (gồm 6 ca khúc về để tài miền núi), tác phẩm này đã đoạt Huy chương bạc Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 1993…

Có nhiều hôm ngồi ở cà phê Long, Thái Nghĩa tâm sự, bên cạnh những thế hệ nhạc sĩ gạo cội, anh đặt rất nhiều kỳ vọng vào lực lượng sáng tác trẻ sẽ góp phần tạo nên những diện mạo mới cho âm nhạc Đà Nẵng, nếu người ta biết khơi đúng dòng cảm xúc. Thái Nghĩa còn rất nhiều dự định với âm nhạc thành phố, với sự nghiệp báo chí văn nghệ, nhưng thời gian trôi nhanh và cuộc sống đầy bất trắc, căn bệnh ung thư quái ác mang trong mình khiến anh phải dừng “cuộc chơi” đầy tâm huyết này. Cho dù bệnh tình như vậy mà từ những ngày cuối năm 2014 đến đầu năm nay, hầu như bất kỳ sự kiện âm nhạc lớn nhỏ nào cũng không thiếu vắng Thái Nghĩa. Vẫn nụ cười hiền lành, vẫn ánh mắt đầy ấp ủ chân tình, vẫn những câu chuyện đầy tâm huyết với âm nhạc của nhạc sĩ Thái Nghĩa.

Trong đời sống văn nghệ không ít những chuyện buồn, sự ganh ghét hơn thua, nhưng với Thái Nghĩa hầu như trong giới sáng tác đều dành cho anh tình cảm quý trọng, yêu mến. Nhạc sĩ Nguyễn Duy Khoái bày tỏ, Thái Nghĩa đã đi rồi. Rất buồn, nhưng thật lạ, nghĩ về Nghĩa tôi cứ nhớ mãi nụ cười và niềm vui trong ánh mắt của anh. Có phải cũng từ trong ánh mắt đó đã mang đến cho bạn bè, nhất là các em nhỏ những niềm vui, niềm hạnh phúc bằng chính những ca khúc tươi mới của mình. Bạn bè sẽ khó quên cái phong cách hút thuốc lào, cái cười không thành tiếng, hồn hậu chân thành của Thái Nghĩa. Tôi nhớ những năm 80, khi chúng tôi gặp nhau từ những bài hát thiếu nhi miền núi trên sóng phát thanh. Ca khúc Nhắn về miền núi, sau này với Điệu lý quê em là những thành công đầu tiên của Thái Nghĩa trên con đường đưa âm nhạc đến với tâm hồn tuổi thơ ngày ấy…. Và sau khi trở về thành phố sau nhiều năm lăn lộn với rừng, Thái Nghĩa đã tìm được chỗ đứng cho mình, để hăng say tiếp bước trên con đường âm nhạc. Và, không thể không nhắc đến, sau khi tốt nghiệp khoa sáng tác học viện Huế, anh càng tự tin hơn để làm tốt nhiệm vụ của mình, Trưởng ban Ca nhạc đài Phát thanh Truyền hình Đà Nẵng.
Nhà báo Nguyễn Phàn, đồng nghiệp cùng cơ quan DRT với Thái Nghĩa đã viết trên facebook của mình: Vậy là anh đã đi. Anh đi đúng cái “nắng chiều xuống vội” chiều nay 15.5…Bây giờ dòng sông quê anh vẫn “lặng lờ trôi mà anh đâu rồi” như điều mà anh đồng cảm khi phổ ca khúc Dòng sông còn lại của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. Ca khúc mà lúc sinh thời anh rất thích. Còn nhạc sĩ Đình Thậm, người bạn gần gủi thân thiết với Thái Nghĩa tâm sự: “ Với bạn bè, anh em đồng nghiệp, Thái Nghĩa luôn sống rất vui vẻ, mộc mạc, chân tình; anh sẵn sàng giúp đỡ nhiệt tình khi ai đó gặp khó khăn trong sáng tác cũng như trong cuộc sống. Âm nhạc của anh đậm chất dân ca quê mẹ miền Trung. Anh viết nhiều thể loại nhưng đặc biệt anh rất thành công với mảng ca khúc thiếu nhi. Nhiều tác phẩm của anh được in trong sách giáo khoa…Tôi có nhiều kỷ niệm khó quên với Thái Nghĩa qua những chuyến đi thực tế sáng tác về những miền quê Quảng Nam Đà Nẵng. Ở đâu anh cũng để lại những tình cảm sâu đậm với mọi người. Riêng bài hát Dòng sông còn lại của anh với tôi là một kỷ niệm đẹp. Tuy có nhiều ca sĩ trình bày ca khúc này, nhưng anh vẫn thích nghe tôi hát nhất. Xin tiễn biệt một người bạn, một nhạc sĩ tài hoa của quê hương bằng chính lời trong ca khúc ấy:
Ngày anh đi hoa đỏ dòng sông
Nhớ khi bồi thương hơn ngày lở
Không ai hát người ơi, người ở
Mà người đi, đi mãi không về…
Bốn mươi năm – quá nửa đời người, Thái Nghĩa đã dành cho âm nhạc, có quá nhiều vui buồn đã trải, làm sao nói hết… Nhưng có điểu chắc chắn là anh sẽ không bao giờ quên nụ cười trong sáng của những em nhỏ vùng cao; những chuyến đi rong ruổi trên những dặm đường dài của người làm báo và những giây phút thăng hoa trên từng nốt nhạc, hạnh phúc nhặt nhạnh từng ca từ đẹp từ cuộc trong sống, để chắc lọc cho đời những tác phẩm khó phai mờ…Và, chắc chắn rằng, anh em bạn bè văn nghệ cũng không thể nào quên được nụ cười và ánh mắt hiền hòa chan chứa bao dung của người nghệ sĩ đích thực, nhạc sĩ Thái Nghĩa.
NNH

BOX:
Nhạc sĩ Thái Nghĩa sinh năm 1958 tại Điện Hòa, Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nguyên Chủ tịch Hội Ầm nhạc thành phố các nhiệm kỳ 2002 – 2007, 2007 – 2014; Trưởng ban Văn nghệ Đài PT-TH Đà Nẵng, Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
Từ trần lúc 15 giờ ngày 15.5.2015

Với những đóng góp tích cực trên nhiều lĩnh vực, nhạc sĩ Thái Nghĩa đã được nhận nhiều phần thưởng cao quý như Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng, Huy chương Vì sự nghiệp âm nhạc Việt Nam, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp phát thanh – truyền hình, báo chí cùng nhiều giải thưởng về sáng tác, lý luận phê bình âm nhạc khác…

Trần Từ Duy và chai Chivas cúng Hoàng Tư Thiện

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 4, 2016

Trần Từ Duy uống rượu thì hầu như anh em văn nghệ ai cũng biết. Anh có sở thích đặc biệt với Chivas từ lâu rồi, gần như từ ngày có nhiều tiền anh chỉ dùng mỗi thứ rượu này? Trần Từ Duy mê Chivas thì đã đành, đàng này khi đi dự đám giỗ nhà thơ Hoàng Tư Thiện, anh cũng tìm cho ra chai Chivas thứ thiệt mang lên cúng bạn hiền, mới chịu.
Tôi còn nhớ cách đây 2 năm, khi anh từ Sài Gòn vừa về Đà Nẵng chơi, đúng y kỷ niệm ngày mất của Thiện, Trần Từ Duy gọi điện cho tôi “Hạnh có đến Hoàng Tư Thiện ghé lại khách sạn cho mình đi với”. Tôi xách ô tô đến đón Trần Từ Duy, cứ nghĩ thế là chạy thẳng đi thôi, vì anh em đang chờ trên nhà Hoàng Tư Thiện. Ai ngờ Trần Từ Duy bảo tôi rẽ về đường Trần Phú, đến quán rượu nổi tiếng ở đây để tìm cho ra chai Chivas mang lên giỗ bạn. Khi bà chủ tiệm mang chai Chivas ra, vừa cầm lên, Trần Từ Duy vuốt nhẹ, nheo con mắt vài giây, liền bảo bà ấy đổi ngay chai khác, yêu cầu phải là rượu chính hãng…
Tôi chợt nghĩ, thân hữu mà chân tình như thế, rất hiếm, bởi có không ít bạn bè văn nghệ lòng đầy giả trá, nói gì đến rượu! Trần Từ Duy đã thể hiện lòng quý mến với một người bạn thơ qua đời đã gần 10 năm như thăm bạn lúc sinh thời. Điều này, tôi rất ngưỡng mộ và hiểu thêm về con người nghệ sĩ của Trần Từ Duy, một người bạn đặc biệt với rượu Chivas, với bạn bè!
Và, trong đám giỗ của Thiện hôm ấy, tôi tình cờ chụp được tấm ảnh này mà sau khi tôi đưa lên facebook, Trần Từ Duy bảo tôi, mình rất thích khuôn mặt bụi bặm này của mình!
P/S: Mong rằng đây không phải là kỷ niệm cuối cùng để vĩnh biệt môt khuôn mặt thân thương!

NHỚ HỘI AN

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 1, 2016

Kỷ niệm với nhà thơ Nguyễn Thụy Kha

& họa sĩ Lê Thiết Cương ở Hội An.

IMG_7685 13510973_1734036993551851_647798769469427208_n

THU RƠI

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 1, 2016

Nguyễn Ngọc Hạnh

Mưa cong vút lên trời hoàng hôn
Chiều chậm trôi mờ xa vơi đầy
Treo bài thơ trên lưng chừng mây
Như là em rơi trong thu gầy

Ai như vừa đi qua heo may
Có nghe chăng mùa thu xa rồi
Chút nắng hanh vàng còn sót lại
Em bềnh bồng hay thu đang trôi

Ai như vừa đi qua đời tôi
Mây xa kia bay về chân trời
Còn mình tôi bơ vơ một bóng
Thu xa rồi mà em nơi đâu

Thu xa rồi hay em xa tôi
Biết còn ai nâng niu bên đời
Một chiếc lá vàng rơi rất thấp
Rơi theo chiều tôi đang rơi.
28.10.2014

Trần Từ Duy và chai Chivas cúng Hoàng Tư Thiện

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Mười 29, 2015

10003451_358486884289587_614974696_nTrần Từ Duy uống rượu thì hầu như anh em văn nghệ ai cũng biết. Anh có sở thích đặc biệt với Chivas từ lâu rồi, gần như từ ngày có nhiều tiền anh chỉ dùng mỗi thứ rượu này? Trần Từ Duy mê Chivas thì đã đành, đàng này khi đi dự đám giỗ nhà thơ Hoàng Tư Thiện, anh cũng tìm cho ra chai Chivas thứ thiệt mang lên cúng bạn hiền, mới chịu. Tôi còn nhớ cách đây 2 năm, khi anh từ Sài Gòn vừa về Đà Nẵng chơi, đúng y dịp kỷ niệm ngày mất Hoàng Tư Thiện. Trần Từ Duy gọi điện cho tôi “Hạnh có đến Hoàng Tư Thiện ghé lại khách sạn cho mình đi với”. Tôi xách ô tô đến đón Trần Từ Duy, cứ nghĩ thế là chạy thẳng đi thôi, vì anh em đang chờ trên nhà Hoàng Tư Thiện. Ai ngờ Trần Từ Duy bảo tôi rẽ về đường Trần Phú, đến quán rượu nổi tiếng ở đây để tìm cho ra chai Chivas mang lên giỗ bạn. Khi bà chủ tiệm mang chai Chivas ra, vừa cầm lên, Trần Từ Duy vuốt nhẹ, nheo con mắt vài giây, liền bảo bà ấy đổi ngay chai khác, yêu cầu phải là rượu chính hãng. Quay sang tôi, Duy nói nhỏ, Thiện sành rượu lắm, hắn rất ghét rượu giả (kể cả rượu gạo giả)!… Tôi chợt nghĩ, thân hữu mà chân tình như thế, rất hiếm, bởi có không ít bạn bè văn nghệ bây giờ lòng đầy giả trá, nói gì đến rượu thiệt! Trần Từ Duy đã thể hiện lòng quý mến với một người bạn thơ qua đời cách đây đã gần 10 năm như thăm bạn ngày xưa thời bao cấp. Điều này, tôi rất ngưỡng mộ và hiểu thêm về con người nghệ sĩ của Trần Từ Duy, một người bạn đặc biệt với rượu Chivas, đặc biệt với bạn bè!

Và, trong đám giỗ của Thiện hôm ấy, tôi tình cờ chụp được tấm ảnh này bằng máy điện thoại mà sau khi tôi đưa lên facebook, Trần Từ Duy lại rất thích, “mình rất thích khuôn mặt bụi bặm này”! Ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp nhà thơ Trần Từ Duy, xin vĩnh biệt môt khuôn mặt văn nghệ xứ Quảng thân thương!

Vĩnh biệt nhạc sĩ Thái Nghĩa

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Năm 17, 2015

SÔNG LẶNG LỜ TRÔI
MÀ ANH ĐÂU RỒI!

Nguyễn Ngọc HạnhNhạc sĩ Thái Nghĩa

Chỉ mới vừa đây thôi, chưa đầy vài tiếng đồng hồ khi tôi và nhà thơ Võ Kim Ngân đến Khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện C thăm nhạc sĩ Thái Nghĩa…Và, không ai ngờ đó là lần cuối cùng chúng tôi được anh cầm tay ấm áp, đầy xúc động.
Trước lúc chia tay anh, có một chi tiết nhỏ mà chị Thông, vợ nhạc sĩ cho biết, rất hiếm hoi khi thấy nụ cười của Thái Nghĩa trong thời gian điều trị gần đây, thế mà khi cậu con rể của anh cầm điện thoại đưa lên chụp ảnh, Thái Nghĩa bỗng cười vui như người mới vừa ốm dậy. Ai ngờ trong đôi mắt anh lóe lên một ánh nhìn đầy nghị lực mà dạt dào tình yêu mến ấy lại là giây phút cuối cùng khi nhìn những người thân đứng bên cạnh mình.

Tôi quen biết với Thái Nghĩa đã lâu, bao nhiêu cuộc chuyện trò văn nghệ thường diễn ra ở quán cà phê Long, đường Lê Lợi. Lúc chưa bị bệnh, nơi đây là điểm gặp gỡ của anh với anh em văn nghệ Đà Nẵng, có nhiều khi ngồi suốt buổi mà anh không nói gì, chỉ thi thoảng lại cầm chiếc điếu cày tự chế rít vài hơi rồi nhìn đường phố tấp nập người qua, với một nụ cười hiền lành đầy yêu mến. Anh sống với đời vừa nhẹ nhàng vừa dữ dội, đầy cá tính. Hết lòng với lớp nhạc sĩ đàn em, không ganh ghét hơn thua với đồng nghiệp, nhưng anh rất cương trực, không dung hòa với cái xấu, cái ác. Điều này qua lời kể chị Thông, có phải nhờ tính cách ấy mà suốt hơn một năm qua anh đã chiến đấu bền bỉ với căn bệnh hiểm nghèo bằng chính nội lực, khí tiết của mình.

Bốn mươi năm miệt mài cống hiến trên các lĩnh vực sáng tác, biên khảo, sưu tầm, nghiên cứu, lý luận, phê bình âm nhạc, nhạc sĩ Thái Nghĩa đã trở thành cái tên quen thuộc với làng nhạc, làng báo và công chúng cả nước. Có lần, anh tâm sự với tôi, đối với người sáng tác thì vốn sống, sự trải nghiệm cộng với ý chí tích lũy từ tình yêu cuộc đời…sẽ mang lại thăng hoa trên những nốt nhạc, và ca từ đẹp cũng từ đó mà ra. Rồi đây nhiều người sẽ còn nhắc nhiều về anh, một nhạc sĩ đã có nhiều đóng góp cho hoạt động âm nhạc không chỉ của địa phương mà của cả nước, đặc biệt là mảng âm nhạc thiếu nhi và miền núi quê mình.
Trong làng nhạc Đà Nẵng, không mấy ai gắn bó nhiều với âm nhạc đồng bào miền núi như Thái Nghĩa. Nhà thơ Võ Kim Ngân nhớ lại, Thái Nghĩa hồi còn trẻ khi mới về công tác tại Đài Phát thanh tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, năm 1978, anh được phân công đi xây dựng Đài Truyền thanh miền núi huyện Phước Sơn. Thái Nghĩa vừa làm nhiệm vụ xây dựng Đài, vừa sáng tác, vừa sưu tầm văn nghệ dân gian. Từ đó, những làn điệu, những nhạc cụ giản đơn mà tinh tế của đồng bào miền núi ở Phước Sơn và những địa bàn mà anh có dịp đi qua cứ khiến anh mê mẩn. Thái Nghĩa đã dành một thời gian dài đi khắp núi rừng Quảng Nam – Đà Nẵng để thực hiện những công trình nghiên cứu về âm nhạc của các đồng bào nơi đây.
Nhạc sĩ Nguyễn Huy Hùng, người bạn cùng thời đầu tiên với Thái Nghĩa trong hoạt động âm nhạc ở Đà Nẵng cho biết, Nghĩa vẫn luôn tâm niệm, tìm hiểu đời sống tinh thần nói chung, đời sống âm nhạc đồng bào miền núi nói riêng chính là hành trình tìm về cội nguồn, về với hồn dân tộc. Nghệ thuật âm nhạc của đồng bào các dân tộc ở Quảng Nam và Đà Nẵng đã góp phần không nhỏ trong kho tàng văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhưng do những yếu tố khách quan, hầu như chưa có ai theo đuổi việc nghiên cứu này đến cùng. Nhạc sĩ Thái Nghĩa không chỉ có công sưu tầm, nghiên cứu, truyền bá mà anh còn góp nhiều ký âm, đặt lời, dịch ra tiếng Kinh những làn điệu gắn với đời sống của đồng bào các dân tộc Giẻ triêng, Xơ-đăng, Cơtu…
Chính từ cái vốn tích lũy quý giá ấy đã trở thành nguồn cảm hứng đặc biệt trong sáng tác của Thái Nghĩa. Trong hơn 100 ca khúc của anh, Thái Nghĩa đã dành sự ưu ái đặc biệt đối với đời sống đồng bào các dân tộc vùng cao, đặc biệt là các em nhỏ miền núi như: Niềm vui phố núi, Đường dây qua quê em, Mẹ cấy giữa mùa vui, Miền núi nhắn về, Tổ khúc Hoa rừng tặng những bé ngoan (gồm 6 ca khúc về để tài miền núi), tác phẩm này đã đoạt Huy chương bạc Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 1993…

Có nhiều hôm ngồi ở cà phê Long, Thái Nghĩa tâm sự, bên cạnh những thế hệ nhạc sĩ gạo cội, anh đặt rất nhiều kỳ vọng vào lực lượng sáng tác trẻ sẽ góp phần tạo nên những diện mạo mới cho âm nhạc Đà Nẵng, nếu người ta biết khơi đúng dòng cảm xúc. Thái Nghĩa còn rất nhiều dự định với âm nhạc thành phố, với sự nghiệp báo chí văn nghệ, nhưng thời gian trôi nhanh và cuộc sống đầy bất trắc, căn bệnh ung thư quái ác mang trong mình khiến anh phải dừng “cuộc chơi” đầy tâm huyết này. Cho dù bệnh tình như vậy mà từ những ngày cuối năm 2014 đến đầu năm nay, hầu như bất kỳ sự kiện âm nhạc lớn nhỏ nào cũng không thiếu vắng Thái Nghĩa. Vẫn nụ cười hiền lành, vẫn ánh mắt đầy ấp ủ chân tình, vẫn những câu chuyện đầy tâm huyết với âm nhạc của nhạc sĩ Thái Nghĩa.

Trong đời sống văn nghệ không ít những chuyện buồn, sự ganh ghét hơn thua, nhưng với Thái Nghĩa hầu như trong giới sáng tác đều dành cho anh tình cảm quý trọng, yêu mến. Nhạc sĩ Nguyễn Duy Khoái bày tỏ, Thái Nghĩa đã đi rồi. Rất buồn, nhưng thật lạ, nghĩ về Nghĩa tôi cứ nhớ mãi nụ cười và niềm vui trong ánh mắt của anh. Có phải cũng từ trong ánh mắt đó đã mang đến cho bạn bè, nhất là các em nhỏ những niềm vui, niềm hạnh phúc bằng chính những ca khúc tươi mới của mình. Bạn bè sẽ khó quên cái phong cách hút thuốc lào, cái cười không thành tiếng, hồn hậu chân thành của Thái Nghĩa. Tôi nhớ những năm 80, khi chúng tôi gặp nhau từ những bài hát thiếu nhi miền núi trên sóng phát thanh. Ca khúc Nhắn về miền núi, sau này với Điệu lý quê em là những thành công đầu tiên của Thái Nghĩa trên con đường đưa âm nhạc đến với tâm hồn tuổi thơ ngày ấy…. Và sau khi trở về thành phố sau nhiều năm lăn lộn với rừng, Thái Nghĩa đã tìm được chỗ đứng cho mình, để hăng say tiếp bước trên con đường âm nhạc. Và, không thể không nhắc đến, sau khi tốt nghiệp khoa sáng tác học viện Huế, anh càng tự tin hơn để làm tốt nhiệm vụ của mình, Trưởng ban Ca nhạc đài Phát thanh Truyền hình Đà Nẵng.
Nhà báo Nguyễn Phàn, đồng nghiệp cùng cơ quan DRT với Thái Nghĩa đã viết trên facebook của mình: Vậy là anh đã đi. Anh đi đúng cái “nắng chiều xuống vội” chiều nay 15.5…Bây giờ dòng sông quê anh vẫn “lặng lờ trôi mà anh đâu rồi” như điều mà anh đồng cảm khi phổ ca khúc Dòng sông còn lại của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. Ca khúc mà lúc sinh thời anh rất thích. Còn nhạc sĩ Đình Thậm, người bạn gần gủi thân thiết với Thái Nghĩa tâm sự: “ Với bạn bè, anh em đồng nghiệp, Thái Nghĩa luôn sống rất vui vẻ, mộc mạc, chân tình; anh sẵn sàng giúp đỡ nhiệt tình khi ai đó gặp khó khăn trong sáng tác cũng như trong cuộc sống. Âm nhạc của anh đậm chất dân ca quê mẹ miền Trung. Anh viết nhiều thể loại nhưng đặc biệt anh rất thành công với mảng ca khúc thiếu nhi. Nhiều tác phẩm của anh được in trong sách giáo khoa…Tôi có nhiều kỷ niệm khó quên với Thái Nghĩa qua những chuyến đi thực tế sáng tác về những miền quê Quảng Nam Đà Nẵng. Ở đâu anh cũng để lại những tình cảm sâu đậm với mọi người. Riêng bài hát Dòng sông còn lại của anh với tôi là một kỷ niệm đẹp. Tuy có nhiều ca sĩ trình bày ca khúc này, nhưng anh vẫn thích nghe tôi hát nhất. Xin tiễn biệt một người bạn, một nhạc sĩ tài hoa của quê hương bằng chính lời trong ca khúc ấy:
Ngày anh đi hoa đỏ dòng sông
Nhớ khi bồi thương hơn ngày lở
Không ai hát người ơi, người ở
Mà người đi, đi mãi không về…
Bốn mươi năm – quá nửa đời người, Thái Nghĩa đã dành cho âm nhạc, có quá nhiều vui buồn đã trải, làm sao nói hết… Nhưng có điểu chắc chắn là anh sẽ không bao giờ quên nụ cười trong sáng của những em nhỏ vùng cao; những chuyến đi rong ruổi trên những dặm đường dài của người làm báo và những giây phút thăng hoa trên từng nốt nhạc, hạnh phúc nhặt nhạnh từng ca từ đẹp từ cuộc trong sống, để chắc lọc cho đời những tác phẩm khó phai mờ…Và, chắc chắn rằng, anh em bạn bè văn nghệ cũng không thể nào quên được nụ cười và ánh mắt hiền hòa chan chứa bao dung của người nghệ sĩ đích thực, nhạc sĩ Thái Nghĩa.
NNH

NƯỚC MẮT

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Tư 17, 2015

Những giọt nước mắt mặn chát
Giọt giọt đầy vơi nhỏ xuống đêm thâu
Chưa nếm trải nỗi đau nào hơn thế
Chưa biết còn day dứt đến bao lâu!

Giọt nước mắt vui, ngày mẹ sinh con
Ôi cái vị ngọt ngào ngày thơ bé
Giọt chảy vào trong sâu nặng
Giọt giọt ứa ra niềm hạnh phúc vô bờ

Giọt lệ nào đọng giữa câu thơ
Chảy suốt một đời mẹ cha khốn khó
Giọt nước mắt khô – giọt máu
Bao năm dưỡng dục thịt da mình

Giot lệ bây giờ là giọt vô minh
Một giọt hư không bay giữa nhân tình
Rủ bỏ hết những điều vô nghĩa
Bao oán hờn lưu vết giữa trần gian

Hãy là mây bay, gió thổi, đại ngàn
Con là một mà vô biên, vô tận
Giọt nước mắt giờ đâu còn vị mặn
Mà rạng ngời như giọt lệ không trùng…
IMG_3195

KHI CƠN BÃO ĐI QUA

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Mười 18, 2013

KHI CƠN BÃO ĐI QUA

1.
Khi cơn bão đi qua
Vùi lấp những buồn vui trên bầu trời này
Những con thú hoang dã vồ vập ăn tươi nuốt sống đất đai, cỏ cây và bao nhiêu niềm hạnh phúc của con người mà nó không cần hỏi han, suy xét.
Có phải huỷ diệt cùng lúc để cuộc sống này sinh tồn?
2.
Khi mất điện, chong ngọn đèn lên trong bóng tối, bỗng dưng con người hồi tâm nhớ lại ánh trăng quê, nhớ về nguồn cội một thời xa lơ xa lắc…
Khi bão đến, điện thoại, máy vi tính hết pin, không ít người bỗng nhiên hoảng hốt, vì mình đã từng quên đi thói quen viết bằng tay lên giấy kẻ hàng, quên những cuộc chuyện trò dung dị bằng thư, dán têm gửi qua đường bưu điện, rồi nôn nao chờ đợi từng ngày…
3.
Cơn bão đi qua, xé nát bao hàng cây xanh, thổi tung bao mái nhà. Gió cuồn cuộn như bầy hỗ dữ dẫm nát sự bình yên của cuộc đời này.
Và, đêm nay, khi không bật được chiếc tivi như mọi ngày, lúc ấy, ta sẽ hiểu thấu cái giá trị băng tầng phát ra từ chiếc radio cũ kỹ bỏ quên trong góc hẹp. Những âm thanh xa xưa ấy như tiếng nói của những linh hồn tự lâu rồi nay được đánh thức, trổi dậy. Tái sinh
4.
Chỉ cần một cơn bão đi qua trong tâm hồn, con người sẽ hiểu hơn về sự tồn tại của những u mê từ cái vật chật tầm thường giữa cõi đời này, để hiểu ra gốc ngọn của sự sáng tạo và huỷ diệt, để biết yêu hơn chính cái tâm hồn bất tử của mình.

Nhà văn Đà Linh, trò chơi tiếp tục…

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Chín 30, 2013

Da Linh

Nhà văn Đà Linh tên thật là Nguyễn Đức Hùng. Ông sinh năm 1958 tại huyện Núi Thành – Quảng Nam, nhưng có thời gian dài sống tại Hà Nội. Đà Linh nổi tiếng với các tập truyện như Giấc mơ của dòng sông (1988), Nàng Kim Chi sáu ngón (1992), Truyện của người (1996)…

Khi làm Phó giám đốc – Tổng biên tập NXB Đà Nẵng ông còn được xem là “bà đỡ” của nhiều tác phẩm văn học mà sau khi đã xuất bản đã được nhiều dư luận quan tâm như “Ba người khác” của nhà văn Tô Hoài hay “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái… Nhà văn Đà Linh được biết đến như là một nhà xuất bản trẻ uyên bác đã có những quyết định mạnh mẽ, táo bạo, trong công tác xuất bản sách văn học giữa những năm đổi mới của đất nước. Tiếc rằng ông không chống chọi nỗi với cơn bạo bệnh hiểm nghèo.
Bài viết dưới đây của nhà thơ Trần Tuấn đã lên trang Tạp chí Doanh nhân số tháng 9.2013; anh em trong Ban biên tập chúng tôi vẫn hy vọng rằng nhà văn Đà Linh sẽ đọc lại bài viết này trước khi nhắm mắt, nhưng phải đành gác lại, thay bài khác vì lý do “tế nhị”. Cả hai… đều thật hiểm nghèo !

a dl

Tôi ở cùng thành phố với ông mà năm thì mười họa mới gặp. Gặp cũng chỉ loay hoay vỉa hè mấy chai bia, một chút chuyện văn chương, một chút chuyện đời, chuyện người. Như hai gã công chức tan sở.

Tôi quý ông ở lối viết ngắn, lạnh, và đối lập với đó là sự nhiệt tình với bạn bè văn chương ở ngoài đời. Ông viết không nhiều, có 3 tập truyện ngắn, 1 truyện vừa, một vài tiểu luận và 4-5 cuốn tiểu thuyết, sách nghiên cứu dịch riêng và cả dịch chung với vài người khác. Nhưng lối văn “lạnh” trong các truyện ngắn của ông theo tôi là khá hiếm, và đáng để ý. Chủ yếu khai thác những “trạng huống nhân sinh” quen thuộc nhưng bằng một “con dao mổ” sắc lẻm, đã bật lên những tấn bi hài thường rất bất ngờ, đôi lúc là những bi kịch phi lý theo kiểu F. Kafka. Như cái ngón tay thứ sáu đầy ma thuật của nàng Kim Chi trong truyện ngắn “Nàng Kim Chi sáu ngón” viết từ hồi đầu những năm 90 của thế kỷ trước. “Một bàn tay trắng mịn, thuôn dài, đầy đặn, trên có ngón thứ sáu mọc ra, cong queo, vẹo vọ …”, mang một lời nguyền bí ẩn, và luôn bị xa lánh, kỳ thị. Bối cảnh là khu học xá nghèo nàn giữa vùng đồi ở thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phú hồi đầu những năm 80. Là con sông Cà Lồ trễ nải, là những chuyến tàu chợ về đêm chở đầy định mệnh. Là biển Mỹ Khê – Đà Nẵng hơn chục năm sau, khi cô sinh viên xinh đẹp có ngón tay thứ sáu ấy bỏ học trở về để thành bà chủ quán bia sẵn sàng ngồi với khách với một đôi tay hoàn thiện, không còn ngón tay thừa nào cả … Ngón tay ấy đã co giật và teo lại, rụng đi vào cái đêm Nhật – “người con trai đầu tiên và duy nhất đã âu yếm nó và hình như cả thèm khát nó” – bị thanh sắt thành cầu Thạch Lỗi gạt rơi khỏi chuyến tàu chợ. Nàng Kim Chi đã chôn theo ngón tay ấy cùng với Nhật bên cầu, và từ đấy không còn một “Kim Chi sáu ngón” với trái tim kỳ diệu và bàn tay khuyết tật. Những người trẻ ấy, họ đã chết, vì “chỉ nghĩ đến các vì sao, chính vì thế không vượt nổi qua thanh sắt”. Kể thêm một vài truyện ngắn đầy ma mị khác : “Truyện của Người”, “Linh miêu”, “Ngôi nhà sáng tạo” … Tôi có lần bảo ông, cái không khí truyện và lối viết “quái đản” ấy, ông nên khai thác tiếp, “chơi tới bến” xem sao, ông chỉ cười, “ừ, thì trò chơi vẫn tiếp tục”.
Thực ra thì với ông Đà Linh này, văn chương chả bao giờ là “trò chơi” cả. Ngày ấy, hai mươi tư năm về trước, năm 1984, có một chàng lính 24 tuổi đêm đêm thắp đèn kê lên thùng gỗ tại … nhà vệ sinh của doanh trại viết những dòng văn chương đầu đời. Là cuốn truyện vừa “Giấc mơ của dòng sông”, NXB Kim Đồng vừa tái bản. Tại sao lại trong nhà vệ sinh, ông lý giải, vì doanh trại 9 giờ tối đã ngủ, nên phải “lén lút” thức khuya để viết ! Cha mẹ dân Núi Thành – Quảng Nam tập kết, sinh ra và lớn lên ở thủ đô, học xong Đại học tài chính kế toán Hà Nội, Đà Linh về lại Đà Nẵng làm viên chức cho chi nhánh Ngân hàng Đầu tư phát triển, rồi mặc áo lính tiểu đoàn 878 đóng quân ở bán đảo Sơn Trà, sau về Phòng kinh tế Quân khu 5. Hết 3 năm quân ngũ, cũng là lúc viết xong cuốn truyện đầu tay, ông về Nhà xuất bản tổng hợp Quảng Nam – Đà Nẵng, rồi học tiếp Đại học xuất bản (trường Tuyên huấn TW thời đó). Cái “mạch” văn chương – xuất bản kéo dài từ đó.
Để rồi không rõ thế nào, mà người ta dần dà cứ ngắm nhìn săm soi ông dưới “vóc dáng” của cái tên khai sinh là Nguyễn Đức Hùng – Tổng biên tập Nhà xuất bản Đà Nẵng – nơi từng “to gan” cho in những tác phẩm gây xôn xao, chứ ít chịu nhìn chịu thấy một nhà văn mang bút danh Đà Linh văn chương sắc ngọt ở phía sau. Tôi cho vậy là không công bằng.
Lần ấy cao hứng, đã hơi khuya, ông còn kéo tôi về nhà mở rượu ngồi nhâm nhi. Đó là đận vợ ông đi công tác, chứ thường thì chả mấy khi như thế. Rồi ông trang trọng rút ra tập bản thảo thơ Trần Dần in khổ A4 dày ngót gang tay. Nguyên cả một cái cặp màu đen lúc nào cũng căng phồng bản thảo tôi vẫn thấy thường ngày ông đeo bên xe máy vè vè chạy ngoài đường, lần này thì riêng bộ Trần Dần – Thơ đã đủ chật ứ. Đó đâu như vào đầu năm 2007, khi bản thảo này đã đăng ký đề tài xuất bản và đã được thông qua. “Với tập thơ này sẽ cho thấy một Trần Dần đầy đủ nhất ! Nếu đã in thì không thể cắt trích, vì sẽ mất tính tổng thể, tính hoàn chỉnh của thơ Trần Dần”, ông hào hứng thậm chí còn hơn đó là đứa con tinh thần của chính mình. Thực ra từ cuối năm 2006, bản thảo thơ Trần Dần đã được duyệt, nhưng do cận ngày đoạn tháng nên đành đăng ký đề tài lại cho năm sau.
Nhưng rồi chả mấy lâu sau, ông lại lầm lỳ ngồi với tôi vào một buổi chiều. Trú vào hè đường bụi bặm toàn khói xe máy, để nói về thơ. Lần này, vẫn là Trần Dần, tất nhiên. Ông nói về những từ tiếng Pháp được Trần Dần biến âm khi đưa vào thơ, khiến ông một người biết tiếng Pháp cũng toát mồ hôi, phải mày mò tra cứu, hỏi han khắp lượt. Ông bảo, bất cứ biên tập viên nào có tâm huyết, đứng trước bản thảo này đều có cảm xúc rất mạnh… Nhưng tôi có cảm giác như có một cái gì đó vẫn không thể nói thoát ra được. Một cái gì đó ứ nghẹn. Hệt như đang viết một cái gì đó thật say sưa thì bỗng bí rị. Rồi thêm những buổi chiều bần thần như thế…
Cuối cùng, “Trần Dần – Thơ” cũng ra đời, không mấy suôn sẻ nhưng lập tức trở thành một sự kiện văn chương được đông đảo những người yêu thơ, yêu “nhân cách và văn cách” của Trần Dần chào đón. Gần như toàn bộ bản thảo được in, chỉ trừ phần “36 thở zài”. Lai rai về sau, cũng có những ý kiến này nọ, trong đó có cả một vài nhà phê bình, về tập thơ, hay đúng hơn là về tinh thần cách tân quyết liệt trong thơ Trần Dần. Cũng là lẽ thường, bởi với người này, đó là bài học, là niềm hứng khởi thúc đẩy sáng tạo, còn với người khác, sự cách tân như của Trần Dần dù đã khai sinh từ mấy chục năm trước, đến giờ vẫn còn đang ở “thì tương lai” đối với họ. Giải “Thành tựu trọn đời về thơ” của Hội Nhà văn Hà Nội cho “Trần Dần – Thơ” đã nói thay tất cả.
Thú thực, sau “ca đỡ” thơ Trần Dần, tôi mới hiểu thêm nhiều điều về Đà Linh. Có vẻ như trước mỗi một bản thảo chất chứa sự sáng tạo mới lạ, ông không còn là một người biên tập, mà chính là một anh nhà văn trong giây phút cực kỳ hứng khởi trước trang giấy. Một sự “đồng sáng tạo” thú vị. Nhớ có lần ông tâm sự, trong sáng tạo, thường những tác phẩm tài năng nhất luôn có những khoảng trống để người đọc lấp đầy. Còn nếu làm vừa lòng tất cả, e rằng sẽ ít sáng tạo. Và nữa, tập thể Nhà xuất bản Đà Nẵng, trong đó có ông từ bao nhiêu năm nay vẫn nhất quán với một cách ứng xử, đó là hết sức tận tình với cái mới dù là “gai góc” nhưng phù hợp với xu thế phát triển, đó mới đích thực là sự tôn trọng bạn đọc và tôn trọng chính mình.
Nhà văn Tạ Duy Anh có lần tâm sự, rằng cuốn tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” (2004) với lối viết tư duy phá cách của ông phải “trôi dạt” qua 7 “nhà” khác nhau rồi mới được chào đời tại “nhà” Đà Nẵng, để sau đó được tái bản tới 5 lần ở nhiều nơi ! Lần đầu tiên in sách trong nước, nơi gửi gắm của nhà văn Thuận (Pháp) cũng ở Đà Nẵng, với 2 cuốn tiểu thuyết ra mắt cùng năm 2005, là “Phố Tầu” (China Town) và “Paris 11 tháng 8”. Dường như đây là “cú hích” đối với nữ nhà văn có lối “viết khó” này, để chị liên tiếp “về nước” với “T mất tích”, và vừa mới đây là “Vân Vy”. Nhắc đến Thuận, lại nhớ tới “Tình ơi là tình” của nữ nhà văn áo Elfriede Jelinek vốn ầm ào gây tranh cãi khi đoạt giải Nobel 2004, và khi NXB Đà Nẵng và Nhã Nam in ra (2006), dịch giả Lê Quang đã bị phê phán gay gắt vì khi chuyển ngữ đã “trung thành với nguyên tác” ! Cũng trong năm 2006, cuốn tiểu thuyết “Hạt cơ bản” của Michel Houellebecq (Cao Việt Dũng dịch – NXB Đà Nẵng và Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây) ra mắt khiến giới mê sách trong nước lại một phen xôn xao. Bộ sách triết của Francois Jullien – một triết gia hàng đầu của Pháp cũng là một kỳ công của NXB Đà Nẵng cũng như cá nhân Đà Linh, khi đang chuẩn bị in tới cuốn thứ 14, giới thiệu một phương pháp luận mới lạ mang tính đối sánh giữa triết học hiện đại phương Tây và Minh triết phương Đông.
Sự “khó đọc” còn rơi vào hàng loạt những tác phẩm được Đà Nẵng chọn in của những tác giả trong nước : “Cõi người rung chuông tận thế”, “Mười lẻ một đêm”, “Đức Phật, Nàng Sapitri và Tôi” (Hồ Anh Thái), “Ngồi” (Nguyễn Bình Phương”, “Người nhìn thấy trăng thật” (Nguyễn Quang Thiều), “Phòng lạ” (Nguyễn Danh Bằng), “Chuyện tình thời tạp kỹ” (Lê Anh Hoài) … Thậm chí còn gây tranh cãi kịch liệt đến mức trái chiều, như với tiểu thuyết “Ba người khác” của Tô Hoài, tập truyện ngắn “Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu …
Nói Nhà xuất bản Đà Nẵng chuyên “đỡ” những ca khó, cũng phải công bằng nhìn nhận một điều, đó là chính “bà đỡ” này cũng được “đỡ”, được hít thở không khí “mở” và năng động, luôn tiên phong của một địa phương là thành phố Đà Nẵng. Bởi vốn Đà Nẵng – Quảng Nam, mảnh đất từng sinh ra những con người tiền phong về tư tưởng và văn chương : Phan Châu Trinh, Phạm Phú Thứ, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Diệu, Phan Khôi, Bùi Giáng, Nguyễn Văn Xuân …, đã để lại “chiếc nôi văn hoá” đủ lớn để nâng đỡ, cất cánh cho sáng tạo.
Tôi nhớ cái kết nghiệt ngã trong truyện ngắn “Trò chơi tiếp tục” của Đà Linh. Nghiệt ngã không phải ở chỗ có những thứ trò chơi trải qua thời gian, sẽ không còn là trò chơi nữa. Mà là sự cô độc, trơ trọi và trả giá của con người khi quyết sống đúng với mình. Bởi, rất nhiều khi, không phải ngón tay thứ sáu nào cũng có thể co giật và teo lại, rụng đi …

Trần Tuấn
—–
Ảnh 1: Trang thiết kế bài Đà Linh, trò chơi tiếp tục…
Ảnh 2: Nhà văn Đà Linh & Nhà văn Nguyễn Văn Xuân (đứng)

KỶ NIỆM MỘT NĂM ĐÊM THƠ – CA KÝ ỨC DÒNG SÔNG (04.04.2012 – 04.04.2013)

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Tư 4, 2013

Mới đó mà đã một năm rồi ! Đêm Thơ-Ca Nguyễn Ngọc Hạnh – Ký ức dòng sông được tổ chức tại Điện Bàn vào ngày 04/04/2012 với sự tham gia của anh em bạn bè văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng, của những người yêu văn chương cùng thời trên quê hương đất Quảng…Có một Đêm như thế đối với người sáng tác là một hạnh phúc lớn lao, một niêm vui khó tả bằng lời…Hai đứa con sinh đôi : Một album ca khúc phổ thơ & Một tập thơ tình của Nguyễn Ngọc Hạnh đã được công chúng đón nhận chân thành. Kỷ niệm một năm Đêm Thơ-ca ấy, Nguyễn Ngọc Hạnh một lần nữa xin gửi lời cảm ơn đến các nhà văn, nhà thơ, các nhạc sĩ, ca sĩ và người hâm mộ đã luôn quan tâm theo dõi, yêu mến đời thơ Nguyễn Ngọc Hạnh trong mấy chúc năm qua.

MỜI CÁC BẠN XEM PHIM CA NHẠC DÁNG QUÊ – CA KHÚC PHỔ THƠ NGUYỄN NGỌC HẠNH
( Phim do Đài VTV Đà Nẵng thực hiện tháng 10.2012)

http://www.youtube.com/watch?v=euIyRl5E0NY

PHẠM VĂN HẠNG KHẮC HỌA TÌNH YÊU NGƯỜI ĐÀ NẴNG

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Tư 4, 2013

 

Phạm Văn HạngCầu Rồng Đà Nẵng khánh thành chưa đầy một tuần, nhiều người dân trong và ngoài thành phố hằng đêm đổ về đây để xem Rồng phun lửa. Trong khi chờ Rồng phun lửa thì cũng không ít người “phun” ra bao nhiêu lời khen chê về câu chuyện đầu rồng, đuôi rồng. Gần tuần nay báo chí đã nói nhiều, bà con đọc cũng mệt rồi. Nay, mình post bài của mình lên đây, ai chưa mệt thì đọc tiếp cho vui để hiểu thêm về câu chuyện cầu Rồng này ! ( Bài đã đăng trên Tạp chí Doanh nhân Đà Nẵng số tháng 3.2013 )

RỒNG TRONG CỘI NGUỒN TÂM THỨC

Việc xây dựng cây cầu mới bắc qua sông Hàn (nay chính thức gọi là cầu Rồng) ngay từ những ngày đầu đã có biết bao chuyện kể…Đầu và đuôi rồng cũng lắm điều thú vị. Tôi còn nhớ một người bạn làm thơ, anh Nguyễn Đức Thắng ở Điện Bàn có bài thơ viết cách đây đã lâu“Nghệ nhân xưa khéo vẽ nên rồng / Như thực như hư tổng hòa muôn vật / Biết tìm đâu ra khắp cùng trời đất / Con rồng bằng thịt bằng xương…”. Có thấy đâu, mà tìm. Các nghệ nhân bao đời cứ vẽ theo trí tưởng tượng từ trong tâm thức của mình. Rồng qua lịch sử mỹ thuật từ ngàn năm, qua cách nhìn của quần chúng thường thấy trên nóc các đình chùa, lăng tẩm, trên giấy, chạm khắc trên đá trên gỗ, thêu thùa trên vải… đã đi sâu vào tâm thức của xã hội… Nhưng đó là con rồng mang tính tạo hình nghệ thuật hội họa, mỗi một tác giả từ dân gian đến khoa bảng đều có thể tung hoành rồng trong mây nước, nổi chìm, uẩn khúc, múa lượn…mà thôi.

Cả Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng đang đứng cùng tôi trên công trường cầu Rồng sáng nay cũng vậy, ông có thấy con rồng bằng thịt bằng xương nào đâu, ông phát họa chân dung rồng thông qua tâm hồn và ký ức của người nghệ sĩ. Ông nhớ lại, đúng một năm từ khi ông nhận được giấy mời của UBND thành phố Đà Nẵng ngày 22/02/2012, lúc ấy đầu và đuôi rồng đang từng mảnh, rồi qua từng thời gian, từng công đoạn kỹ mỹ thuật được định hình nay đã hoàn tất. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ thất thập… này từ trong tâm khảm như muốn rung lên – cảm ơn đất trời…
Nay đầu và đuôi rồng của cầu Rồng Đà Nẵng hoàn toàn khác. Từ chất liệu bằng thép khô cứng trên một mặt phẳng, phải ứng dụng kỹ thuật hàn ghép, tạo dáng … làm thế nào để trên một mặt phẳng của sắt vô tri, có tiết tấu bóng tối và ánh sáng hé lộ hình hài phù hợp với thiết kế đã duyệt và đang thi công… Nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng là người đến sau, ông phải tuân thủ nghiêm ngặt về kỹ thuật xây dựng cầu, trọng tải, kích thước trong khuôn khổ thiết kế cho phép và quan trọng nhất, qua những lần trình bày với lãnh đạo và hội đồng kiến trúc đã nghe tâm tư nguyện vọng về sự thay đổi hình tượng của hãng thiết kế The Louis Berger, đơn vị đã chiếm giải nhất trong cuộc thi, và chính tác giả Kiến trúc sư Thomas Anderson đã gặp gỡ, trao đổi về đường nét giữa người sáng tác cầu và người thiết kế đầu đuôi rồng cặn kẽ, chi tiết… phải đến 5 lần 7 lượt trình bày hình mẫu phác thảo mới ổn được như hôm nay. Ông cho biết, “có những lúc phải chạm đến lòng tự ái nghề nghiệp anh ạ. Cũng từ đó nảy sinh ra ý tưởng… Bởi suy cho cùng lãnh đạo thành phố luôn đứng về phía phục vụ quần chúng nhân dân với cách nhìn hình tượng Rồng từ ngàn xưa tồn tại … còn nghệ sĩ sáng tạo luôn ước vọng độc đáo theo ngôn ngữ tạo hình phù hợp thiết kế đang thi công của mình. Và như anh biết, cuối cùng cả hai bên đều tôn trọng, đồng cảm để đi đến chọn mẫu rồng thời Lý làm nguồn cảmhứng sáng tác đầu và đuôi rồng”.

Phạm Văn Hạng và Nguyễn Ngọc Hạnh

TẠI SAO LẠI CHỌN RỒNG THỜI LÝ ?
Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng cho rằng, thời Lý qua sử sách là thời thịnh trị … Việt Nam vừa kỷ niệm 1000 năm Thăng Long dựng cơ đồ… Hình tượng Rồng thời Lý tự tin, an lạc… Hình tượng Rồng Đà Nẵng ẩn chứa biểu tượng tính nhân văn thời đại, tính Đà Nẵng trữ tình… nên đôi mắt Rồng thể hiện hình trái tim, ấy là điểm nhấn duy nhất sự khác biệt giữa Rồng quá khứ và Rồng Đà Nẵng. Như được chắp thêm cánh cho sáng tạo, đuôi rồng ở vị trí đối diện trục đường Nguyễn Văn Linh, cửa ngõ từ phi trường vào thành phố, một tụ điểm quan trọng, mỗi chiều người Đà Nẵng đứng ngắm sông Hàn, đứng ngắm cầu Rồng Đà Nẵng, điểm hội tụ trục đường đón khách trong và ngoài nước… lại nằm cạnh bảo tàng Nghệ thuật Chăm nơi khách tứ phương đến thăm quan du lịch. Do vậy, nên đuôi rồng, tác giả cố gắng tác tạo thành một bó hoa bất tử, mang hình tượng những trái tim kết đoàn của người Đà Nẵng trao tặng đến tất cả những ai có dịp ngắm nhìn…
“Đây là cây cầu thép, đòi hỏi phải đúng kỹ thuật cắt hàn những tấm thép vô tri có chiều dày 10 li đến 20 li thành dáng điệu, đường nét khai thác cao, thấp, nhịp điệu, chỗ âm, chỗ dương để chuyển bóng tối và ánh sáng thành hình, thành mảng tạo cảm giác hình tượng theo nhịp điệu tổng thể cây cầu uốn lượn…” Ông Phạm Văn Hạng cho biết thêm “ tôi là người đến sau, khi thiết kế đang thi công giai đoạn cuối, tác giả không thể vượt qúa tải trọng cho phép cùng kết cấu công trình. Tuy nhiên, để phù hợp tổng thể bố cục cố gắng hài hòa khi nhìn gần có đủ thời gian thưởng lãm qua các chi tiết, đường nét. Đứng cách xa nhìn thấy dáng điệu trong không gian, qua ánh sáng ban ngày, ánh sáng ban đêm sẽ lộ ra hình họa dáng vẻ tổng thể cây cầu Rồng. Tôi cùng các kỹ thuật gia kết cấu, kỹ sư cơ khí, kỹ sư trưởng Phạm Trường Sơn, Tiến sĩ Dũng, Sở giao thông thành phố đã cố gắng nâng chiều cao, chiều dài của đầu và đuôi rồng lớn hơn thiết kế khoảng gần 1/3 và phải gia cố kết cấu sức chịu tải trước gió để công trình phải đảm bảo độ an toàn tuyệt đối.
Cái đẹp thì vô cùng. Nay đầu và đuôi Rồng đã gắn chặt vào thân cầu, tư thế vươn ra biển lớn mang đôi mắt hình trái tim, cái đuôi là một bó hoa mang tâm thức… như muốn trao gởi điều bất tử lớn lao ở tình người, tình Đà Nẵng đến với mọi người trong cõi thế.
15.03.2013

“Nguyễn Ngọc Hạnh – Gốc thượng du xứ Quảng” vừa đi Lao động cuối tuần…

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Hai 28, 2013

ảnh (2)

GẶP MẶT ĐẦU NĂM XUÂN QUÝ TỴ – 2013

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Hai 14, 2013
Năm 1995

Năm 1995

 

Năm 2012

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2013

Nguyen Ngoc Hanh

Năm 2012
Năm 1997

Năm 1997

Năm 1970Năm 1970

Năm 2000

Năm 2000

Năm 2013

Năm 2013

Năm 2013

Năm 2013

Năm 1990

Năm 1990

NHÀ THƠ PHỤNG LAM QUA ĐỜI BÊN LUỐNG RAU NHÀ MÌNH !

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Hai 6, 2013

Theo lời kể của cô hàng xóm, lúc 10h sáng nay, ngày 4.2.2013 ( nhằm ngày 24 tết ), nhà thơ Phụng Lam đang chăm luống rau nhỏ, bề ngang hơn 1 mét, bề dài khoảng 10 mét. Luống rau nằm giữa hai đường tàu ngay trước cổng nhà mình. Bất ngờ một tiếng còi tàu hú lên, nhà thơ Phụng Lam hốt hoảng ngã ra phía sau, va vào thân tàu, bất tỉnh. Tết năm nay có rất nhiều báo đăng thơ của nhà thơ Phụng Lam như Báo Đà Nẵng, Quảng Nam, Công An Đà Nẵng’ Tạp chí Đất Quảng, Non Nước, Đại Lộc, Điện Bàn..

Nhà thơ Phụng Lam – Hội viên Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng. Ông tên thật là Nguyễn Tấn Sinh, sinh năm 1938 (Đinh Sửu) tại thôn Lam Phụng, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, thường trú tại phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Do rủi ro tai nạn (đường sắt), nhà thơ được đưa về Bệnh viện Đà Nẵng cứu chữa nhưng vì thương tích quá nặng, ông đã qua đời vào lúc 10 giờ 30 ngày 4-2-2013.

Tang lễ nhà thơ Phụng Lam được tổ chức tại nhà riêng, phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, Đà Nẵng. Lễ thành phục và viếng nhà thơ Phụng Lam bắt đầu vào lúc 7 giờ ngày 5-2-2013. Lễ di quan vào lúc 12  giờ ngày 6-2-2013, linh cữu ông được đưa về an táng tại nghĩa trang quê nhà, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc.

Nhà thơ Phụng Lam là tác giả hai tập thơ: “Khúc lưu vong của bầy chim sẻ” và “Mùa gió ngược”.

Ông từng đạt giải thưởng cuộc thi thơ do Tạp chí Sông Hương tổ chức vào năm 1996 và giải thưởng Hội Nhà văn Đà Nẵng năm 2011.

Có một bài thơ ngắn, chưa biết tác giả viết tặng Phụng Lam ngày 20.01.2013 như điềm báo về sự ra đi của ông.

Có một bài thơ ngắn, chưa biết tác giả viết tặng Phụng Lam ngày 20.01.2013 như điềm báo về sự ra đi của ông.

ảnh (1)

Cổng nhà nhà thơ Phụng Lam

Nhà thơ Phụng Lam

Nhà thơ Phụng Lam

ảnh (5)


Luống rau cải canh đường ray trước nhà Phụng Lam

ảnh (3)

Anh em văn nghệ sĩ viếng nhà thơ Phụng Lam

Tôi chụp nhà thơ Phụng Lam 2002

Tôi chụp nhà thơ Phụng Lam 2002

Tập thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh đoạt giải thưởng Hội nhà văn Tp Đà Nẵng năm 2012

Posted in Khác bởi nguyenngochanh on Tháng Hai 5, 2013

image

Câu thơ mắc cạn

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Mười Hai 31, 2012

Nguyễn Ngọc Hạnh

Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thôi là hết năm 2012, mọi người đang chuẩn bị hoàn tất công việc cuối năm của mình để đón chào năm mới, 2013.
Vui buồn được mất rồi sẽ qua; giận hờn oán ghét rồi cũng sẽ qua…Tất cả chỉ còn lại chính bản thân mình độc thoại với chính mình. Trước phút giây giao thừa ấy, Nguyễn Ngọc Hạnh xin gửi đến bạn bè, bạn đọc bài thơ Câu thơ mắc cạn này để sẻ chia những được mất trong đời !

 

Lời ru hát lại lần đầu
Đường mòn
Lối nhỏ
Hẹp câu thơ buồn…
Núi mờ một bóng đầu truông
Bàn chân lạc bước dặm đường cùng thơ

Khôn ngoan cắt tiết dại khờ
Cầm hư ảo giữa bến bờ…
Đợi trông
Vừa như có lại như không
Ô hay cái sự đèo bòng cỏ cây
Như là gấp mở bàn tay
Như là sấp ngửa ai bày…
Trần gian

Thôi đành lỡ với đò ngang
Đi không cùng chuyến ngỡ ngàng
Chiêm bao
Biết là chân thấp trời cao
Vầng trăng phía trước, bèo ao phía này
Ruột gan cháy xé miệng cay
Tôi xin dốc cạn trời mây…
Rượu tràn
Rượu nào là rượụ trần gian
Câu thơ mắc mớ chi càn khôn đâu
Mắc chi tôi với đêm sâu
Xin đừng cọ rửa vài câu lở bồi…
Ai người đẻo đọt bờ môi
Tôi như vừa mới là tôi sinh thành

Đâu là bả vọng hư danh
Câu thơ mắc cạn giữa vành môi cong
Bàn chân vấp bước chân mình
Sắc không chân lại gập ghềnh bờ ao

Đâu là đất thấp trời cao
Đâu là dấu vết cồn cào đầy vơi
Nhiễu nhiên da lột mặt người
Câu thơ tát nhẹ vào tôi
Sáng bừng !

21.12.2012
IMG_0003

Ca khúc Phút giao thừa – Nhạc Trọng Đài – Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Posted in Thơ phổ nhạc bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 14, 2012

Ca khúc Phút giao thừa  – Nhạc Trọng Đài – Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Trình bày: Ca sỹ Mỹ Phượng – VTV Đà Nẵng thực hiện

Video clip – Sông chỉ một dòng – Trang văn nghệ DRT 22/05/2012

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh,Thơ,Thơ phổ nhạc bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 7, 2012

Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh trên trang văn nghệ Đài phát thanh truyền hình Đà Nẵng (DRT), ngày 22/05/2012.

KÝ ỨC DÒNG SÔNG” ĐÊM THƠ – CA ĐẤY ẤN TƯỢNG

Posted in Thơ phổ nhạc bởi nguyenngochanh on Tháng Tư 7, 2012

 
alt   Ảnh Minh Thùy
Ông Cao Thanh Tấn, Phó chủ tịch UBND huyện Điện Bàn
tặng hoa cho nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh trong đêm thơ nhạc.

 

alt Ảnh Huỳnh Châu
Đêm thơ đã thu hút khán giả đến xem lấp kín hội trường

 Tối qua, 04/4/2012, Phòng Văn hóa & Thông tin huyên Điện Bàn, Quảng Nam đã tổ chức đêm Thơ – Ca “Nguyễn Ngọc Hạnh – Ký ức dòng sông”, giới thiệu tập thơ tình và Album 16 ca khúc phổ thơ của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh.

Là một trong những người có nhiều tâm huyết trong lĩnh vực văn học nghệ thuật với vùng đất này; sau 15 năm lăn lộn với nghề làm báo, Nguyễn Ngọc Hạnh đã trở về ngay chính quê mẹ của mình để ra mắt tập thơ thứ ba – Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh và Album 16 ca khúc do các nhạc sĩ phổ nhạc từ thơ anh. Ra đi từ dòng sông và trở về cùng với dòng sông, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh là cuộc chuyện trò thầm thì không dứt với con sông thân yêu của đời mình.

Các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ từ thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam đã về tham dự đêm nghệ thuật này như nhạc sĩ Thái Nghĩa, Chủ tịch Hội nhạc sĩ Tp Đà Nẵng, nhạc sĩ Đình Thậm, Nguyễn Đức, Thái Phú, Huỳnh Ngọc Hải…Các nhà thơ Đông Trình, Đinh Trầm Ca, Nguyễn Nhã Tiên, Nguyễn Nho Khiêm, Bùi Xuân, Phụng Lam, Nguyễn Hải Triều, Nguyễn Thượng Thế, Nguyễn Miên Thượng… cùng ca sĩ Thanh Trà, Mỹ Nương, Vỹ Hạ,…và anh chị em văn nghệ sĩ ở Quảng Nam, Đà Nẵng có mặt cùng với hơn 400 công chúng yêu thơ ở Điện Bàn, Đại Lộc, Hội An và Tam Kỳ đến chung vui cùng nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh.

Tham dự với đêm Thơ – Ca, ông Đình Hài, giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Quảng Nam cho biết, chương trình rất có chất lượng, thu hút đổng đảo người hâm mộ, tổ chức bài bản, sang trọng. Đây là một cố gắng lớn của ngành văn hóa thông tin Điện Bàn, đã tạo thêm mạch nguồn cảm hứng cho các văn nghệ sĩ về với Quảng Nam, nhằm tiếp tục đóng góp những sáng tác hay về vùng đất này.

Ông Cao Thanh Tấn, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Điện Bàn tỏ ra rất hài lòng về việc tổ chức đêm thơ Nguyễn Ngọc Hạnh _ Ký ức dòng sông. Ông cho rằng trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt là một khi công chúng yêu thơ ngày càng ít đi, thì việc tổ chức sân chơi này ngày càng cần chuyên nghiệp, có chất lượng hơn để thơ ca đến với công chúng.

Vũ Hưng

NHỮNG KHOẢNG LẶNG

(Đọc Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh, NXB Hội nhà văn, 2012)

alt

Đêm Thơ – Ca Nguyễn Ngọc Hạnh – Ký ức dòng sông, giới thiệu Tập thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh và Album 16 ca khúc phổ thơ của anh, do Phòng Văn hóa thông tin Điện Bàn tổ chức vào tối ngày 4/4/2012. Nhân dịp này chúng tôi đăng bài viết Những khoảng lặng của anh Nguyễn Hữu Vĩnh về tập thơ tình này.

alt

Ảnh Huỳnh Châu

Thơ ca là hình thức tự do dân chủ nhất của cảm xúc, tư tưởng và chính vì thế, người thơ có cơ hội sống thật với mình. Con người luôn bận rộn với mũ mão cân đai cho những vai diễn, hiếm có phút giây được ngắm mình qua gương mà không hề son phấn. Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh, theo tôi là chuỗi những khoảng lặng hiếm hoi như thế.

Thơ tình  Nguyễn Ngọc Hạnh chủ yếu là tiếng nói của cái tôi hướng nội, thì thầm với chính mình; khách thể thẩm mỹ cũng chính là nhân vật trữ tình. Con người không bao giờ sinh sự, to tiếng với chính mình. Vì thế, trong thế giới của thơ anh, ngôn ngữ không ồn ào, làm dáng mà lặng lẽ, giản dị và thành thật.  Đó là thứ ngôn ngữ chân trần lấm lem bùn đất phù sa nơi thượng nguồn sông Vu Gia, chứ không phải thứ chữ nghĩa đi hia nơi thập thành ô xanh lọng tía.

Lớp học nào lớp học đời tôi

Vắng một giây thôi sẽ không là tôi nữa

(Điểm danh)

Câu thơ giản dị đến bất ngờ từ chữ nghĩa đến hình ảnh. Nhưng cái điều anh trăn trở và gửi gắm là sự thao thức của bao người. Điểm danh là cách con người ý thức dừng lại trước đường ma lối quỷ.

Khoảng lặng của chữ chỉ là thể thức của khoảng lặng tâm hồn. Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh là khoảng lặng của một tâm hồn cô đơn đến cùng cực.

Núi ngồi đợi đến tinh mai

Tôi ngồi một bóng bên ngoài trùng khơi

Bóng trăng cùng với bóng tôi

Khuất trong bóng núi gặp lời cổ nhân

(Trăng và bóng)

Trăng và bóng và lời cổ nhân là những thi ảnh giàu sức gợi tả, lãng đãng bóng dáng Đường thi với nỗí cô đơn chất ngất của Lý Bạch khi độc chước vô tương thân, “Cử bôi yêu minh nguyệt/ Đối ảnh thành tam nhân”, hay nỗi cô tịch của Trương Kế trước cảnh “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên”…

Đọc Nguyễn Ngọc Hạnh, ta dễ dàng bắt gặp nhân vật trữ tình ở trong trạng thái một mình, lặng lẽ. Phải chăng đó cũng chính là trạng thái, hoàn cảnh mà cái tôi trữ tình lên tiếng để làm nên một cõi thơ lặng lẽ. “Tôi một mình lặng lẽ đôi khi/ Lặng lẽ với giếng sâu/

Xin nối sợi dây gàu cho lòng bớt cạn.”(Đôi khi), “Chiều rơi nhỏ nhẹ/ Chiều trôi/ Mình tôi/

Đầy ắp khoảng trời không em.”(Một ngày)…

Khoảng lặng một mình trong thơ anh như trái sim xa đồi hoa tím, lẻ loi bên đường nhiều ngả rẽ, hay trái lòn bon lặng lẽ xa nguồn lênh đênh vô định những miềm sóng nước. Để rồi từ những miền xa lạ ấy, hạt mầm bám đất trải nghiệm một sự tồn sinh trước gió mưa viễn xứ. Dường như sự trôi chảy trong cô đơn là cơ may để anh nhận ra cái lẽ của sự sống, ý nghĩa của sự tồn tại. Được mất ở đời chỉ là chỉ là giá trị ước lệ tức thời, nhưng cũng là cách thức để tồn tại có ý nghĩa. “Khi tất cả đi qua, dọc bờ sông phải xói mòn để giữ gìn vẻ đẹp của dòng sông. Mất mát là để tồn tại theo cách của mình, để được là mình. Ít ai hiểu nỗi lòng ấy”(Hạnh phúc lặng lẽ). Và thậm chí, đời riêng là gì khi “nấm mồ không còn riêng ai cả”(Thơ đề trên mộ).

Ngẫm về cái chết là để soi rọi vào cái sống,  để sống sao cho tốt đẹp hơn. Mỗi người có một cuộc đời để sống, thế sự trùng trùng dâu bể sống sao cho được là mình. Đó là khát vọng thường trực, đau đáu trong đời, trong thơ của anh.

Tôi đến với dòng sông

Là đến với lòng tôi

Đời bao nhiêu dáng chảy

Sông chỉ một dòng thôi.

(Sông tôi)

Đôi khi để hoàn thành một vai diễn con người ấy đã phải son phấn nụ cười lời nói, áo mũ lượt là chải chuốt. Anh tự biết điều đó “Ai hay mưa nắng tình cờ/ Ai hay tôi cũng giả vờ với tôi.”(Giả vờ). Đọc Nguyễn Ngọc Hạnh, trước hết,  tôi trân trọng một con người luôn ý thức về mình để không tự vượt đèn đỏ bản thân lao vào vòng đời không lối thoát.  Khả năng chế ngự bản thân sẽ đưa con người đến chỗ toàn thiện. Và ở phương diện này, mỹ học trong thơ anh cũng chính là tiếng nói của đạo đức học.

Lớp học nào lớp học đời tôi

Vắng một giây thôi sẽ không là tôi nữa

(Điểm danh)

Trong Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh, tôi nhận ra một cõi riêng tư của cái bản ngã thiền định. Có những câu thơ như những bài kệ anh dành cho mình. Được mất ở đời có gì đáng nói, chỉ có sự vong thân là điều đáng tiếc hơn cả.

Đừng để khi trở về nơi vườn hương cũ

Tiếng chim lạ rồi, mất giọng thơ xưa.

(Giấc mơ)

Nửa đời phiêu bạt

Nhầm một câu thơ

Nhầm một dòng chảy

Tìm không thấy bờ

(Bài thơ chưa đặt tên)

Anh đón nhận ánh sáng từ bi theo cách riêng của mình để sống, để làm thơ. Thiết nghĩ đó là giá trị cốt lõi cho một đời sống trọn vẹn bản thể hồn nhiên, cho một đời thơ thành thật với lòng.

Có ý kiến cho rằng thơ Việt sính triết lý nhưng thiếu tư tưởng. Tôi không phủ nhận thực tế ấy, nhưng lại suy nghĩ vấn đề theo hướng khác. Triết lý trong thơ Việt không phải thứ trang sức, không hẳn cái mốt thời thượng; triết lý trong thơ trước hết là một sự nghiệm sinh, một nhu cầu mà nhà thơ dành cho chính mình. Với Nguyễn Ngọc Hạnh, những triết lý trong thơ dường như là hệ giá trị sống cho riêng anh chứ không hề cao giọng với người. Do vậy, triết lý là cách để anh sống đường hoàng, tử tế với mình, với người. Điều đó chẳng đáng trân trọng sao?

Đời người như đời sông, đâu dễ gì tường tận. “Chưa đi qua hết đò ngang/ Làm sao hiểu đời sông dọc”(Hạnh phúc). Đọc 43 bài thơ trong tập thơ Thơ tình của anh, buông mấy lời vào sông nước, tôi thấy mình chẳng khác gì kẻ đi đò ngang. Dòng sông thơ ấy vẫn đang âm thầm trôi chảy, bao nhiêu lớp sóng, bao nhiêu lở bồi, nông sâu, ghềnh thác vẫn đang tồn sinh lưu chuyển và chờ người ở cuộc phiêu bồng đầu truông cuối bãi.

                                       Nguyễn Hữu Vĩnh  Tháng Tư, 2012

 

 

Album Giấc mơ – Những ca khúc phổ từ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Posted in Thơ phổ nhạc bởi nguyenngochanh on Tháng Hai 6, 2012

Album Giấc mơ
Những ca khúc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

alt

altalt 

– Ca khúc trong Album Giấc mơ
1. Làng – Nhạc Phan Huỳnh Điểu – Ca sỹ Vân Khánh
2. Xuân Muộn – Nhạc Nguyễn Duy Khoái – Ca sỹ Thái Phú
3. Khi Em Về – Nhạc Phan Trường Sơn – Ca sỹ Thanh Trà
4. Cơn Mưa Ngày Yêu Em – Nhạc Trung Kim – Ca sỹ Thanh Phong
5. Qua Đò Nhớ Mẹ – Nhạc Nguyễn Ngọc Tiến – Ca sỹ Thu Huyền
6. Em và Dòng Sông – Nhạc Quỳnh Hợp – Ca sỹ Dương Quốc Hưng
7. Biển Lặng – Nhạc Quỳnh Hợp – Ca sỹ Đức Quang
8. Phút Giao Thừa – Nhạc Trọng Đài – Ca sỹ Mỹ Phượng
9. Nhớ mùa hoa ven sông – Nhạc Đình Thậm – Ca sỹ Đinh Thậm
10. Bài thơ trên cao – Nhạc Lê Anh – Ca sỹ Thanh trà
11. Lời ru – Nhạc Trung Kim – Ca sỹ Vân Khánh
12. Mênh mang Bà Nà – Nhạc Quỳnh Hợp – Ca sỹ Tốp ca nam
13. Đêm Xuân – Nhạc Trung Kim – Ca sỹ Thái Phú
14. Giấc Mơ – Nhạc Trung Kim – Ca sỹ Hồng Hạnh
15. Dòng sông còn lại – Nhạc Thái Nghĩa – Ca sỹ Thanh Yên
16. Ký ức làng quê – Nhạc Trịnh Tuấn Khanh – Ca sỹ Thanh Trà

alt

Mời cac bạn click vào: Album Giấc mơ – Phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

NGUYỄN NGỌC HẠNH, MỘT GÓC HỒN QUÊ

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Mười 31, 2011
Nguyen Ngoc HanhBác sĩ – nhà thơ Nguyễn Đức Tùng có cuốn  phê bình, phỏng vấn các nhà thơ Việt trên khắp thế giới có cái tên rất hay Thơ đến từ đâu. Vâng, thơ đến từ đâu là câu hỏi muôn đời mà người đọc hay hỏi khi đọc các bài thơ. Có người bảo thơ đến từ trái tim. Có người lại bảo thơ đến từ lý trí. Còn nhà thơ thì ít khi quan tâm việc thơ đến từ đâu. Chỉ viết và viết. Viết ra chưa ưng ý thì viết lại. Nhưng người đọc thơ của tác giả, họ nhận ra ngay thơ anh đến từ đâu…

Nguyễn Ngọc Hạnh đã có 30 năm làm thơ, đã in 3 tập thơ. Thơ Hạnh lặng lẽ như sông, hiền lành như ngôi làng quê thân thuộc Quảng Nam, nơi đầu nguồn của dòng sông Vu Gia, Đại Lộc, với núi non điệp trùng bao bọc. Nên thơ anh là hồn quê, viết cho mình, không ồn ào câu chữ, không khoe khoang cấu trúc, chẳng cần hiện đại hay hậu hiện đại gì cả; chỉ cần tình đời, tình người cho sâu đậm là được. Không còn thì thôi xin đành / Người ơi tôi cúi hôn mình trên sông (Về quê). Hôn mình trên sông là hôn nỗi cô đơn thầm lặng. Yêu lắm, thương lắm mới hôn như thế! Dường như dòng sông ấy, ngôi làng ấy là bản quán thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh. Tình yêu cũng từ đó, hạnh phúc cũng từ đó và nỗi đau cũng từ đó đi ra với anh vào cuộc đời rộng lớn. Có điều Hạnh không hề hay biết làng quê đã thành hồn vía, máu thịt tim óc của mình, giọng nói của mình, đến khi viết văn làm thơ thì mới hay “Giờ làng sống trong tôi”:“Cái làng ấy ra đi cùng tôi

Mà tôi nào hay biết

Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết

Con sông quê bóng núi cứ chập chờn

Xưa tôi sống trong làng

Giờ làng sống trong tôi.” ( Làng)

Giản dị lắm mà cũng  ý vị lắm. Nguyễn Ngọc Hạnh viết rất nhiều thơ về mẹ, về dòng sông và làng quê mình. Ngay cả khi nhìn những bông hoa trên đường quê, Hạnh cũng nghĩ ngay đến những người con đã hy sinh trong chiến tranh ở quê mình: Nhớ về một thời xa xôi / Có bao người đi không về /Nằm lại ven bờ sông ấy/ Thành hoa nở dọc làng quê (Hoa ven sông). Đó là cái bao la, cái ý thức nguồn cội của một tấm lòng. Ngỡ là sông trong / Ai hay dòng đục / Lỡ tắm một lần/ Một đời ray rứt (Bài thơ chưa đặt tên). Đó là sự ray rứt trước sự đời thật giả. Hay: Con đường quê dài như đời mẹ / Tuổi thơ buồn trôi giữa mù khơi / Mẹ nhớ ai như sông nhớ suối / Sông dạt dào lòng mẹ, đời tôi (Quê nhà). Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !/ Sông thì hẹp mà vô bờ đến vậy / Con đi qua hết một thời trai trẻ / Từ chiếc đò lòng mẹ / Qua sông (Qua đò, nhớ mẹ). Qua đò không gọi đò, lại gọi “Mẹ ơi”. Câu thơ làm ta giật mình,  nghĩa là mẹ đã hóa thành con đò ấy, dòng sông ấy chở mình đi hết một đời.

Nguyễn Ngọc Hạnh có những câu thơ về nông dân đẹp mà xót xa thăm thẳm:  Ai hiểu được dưới vành nón lá – Một mặt trời mọc giữa ruộng sâu” (Nông dân). Mặt trời mọc dưới ruộng sâu là hình tượng thơ mới, chưa ai nói tới. Không sống sâu đậm với làng không thể có hình tượng thơ lớn như thế. Kỷ niệm về Mẹ, về làng quê là những kỷ niệm đẹp nhất của mỗi đứa con tha hương. Hạnh có thơ viết về triền dâu, bãi mía về mùa hoa đỏ bên sông thật da diết, cật ruột: Ngày em đi hoa đỏ dòng sông. Nhớ khi bồi, thương hơn ngày lở.  Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh dân dã, chân thật nhưng đầy chiêm cảm. Chính những chiêm nghiệm ấy làm cho câu thơ của anh có sức nặng, sức sống lâu bền hơn. Từ những hình ảnh thơ quan sát được, Hạnh lẩy ra những triết lý ẩn chứa. Viết về mẹ dưới trăng, Hạnh phát hiện ra hình tượng: Trăng nghiêng bóng mẹ trên đầu rẫy/ Như gửi niềm đau xuống đất này” (Quê mẹ). Bóng mẹ già nghiêng xuống nơi đầu rẫy như là bức tranh về thân phận người thôn quê Việt Nam bao đời cay cực.

Gần đây Hạnh có một số bài thơ có người khen là mới, là hiện đại. Nhưng tôi lại nghĩ hiện đại hay không là cái hiệu quả truyền cảm của thơ. Cứ cái làng quê đầu sông Vu Gia ấy mà viết, còn khối cái xúc động lòng người. Ở làng quê này, Nguyễn Ngọc Hạnh mới là Nguyễn Ngọc Hạnh, không lẫn vào người khác. Tôi nhớ có câu thơ của một nhà thơ xứ Ba Tư: Em thế nào cứ thế mà đến / Chớ có loay hoay sửa soạn áo quần.

Vâng, Hạnh đã lặng lẽ tìm mình bên dòng sông quê, nơi bãi mía nương dâu ngàn đời thân thiết. Hạnh hãy tiếp tục về đó để dựng nên bức chân dung làng bằng thơ, bằng tấm lòng của đứa con son sắt. Thành công của Hạnh nhất định là ở đó, vì đó là tình yêu, là máu thịt.

Ngô Minh

Huế, tháng 9-2011

Chậm mất rồi, vĩnh biệt Khoa ơi

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Mười Hai 13, 2009

Chậm mất rồi
Vĩnh biệt Khoa ơi
Rượt đuổi thời gian, chảy ngược dòng đời
Chạy thế nào đây cho kịp lúc
Chân trời vô tận
Mãi xa khơi

Giây phút này đây
Khúc nhạc không lời
Giai điệu bềnh bồng trên mái tóc
Một đời lãng du như rêu cỏ mọc
Mà ấm lòng bao số phận bể dâu

Chậm mất rồi
Nào có nghĩa gì đâu
Thời gian sống
Bù cho ngày đã khuất
Đâu dễ lấp nỗi buồn – nước mắt
Chút ít tình yêu
Khoa gửi lại trần gian
Cái đói rét cồn cào
Gió bão
Lầm than
Sự sống còn của bao người khốn khó
Là nỗi hãi hùng
Trong giấc ngủ không yên
Điềm tĩnh
Như nhiên
Khoa chờ đến lượt mình

Chậm mất rồi
Chân vấp phù sinh
Vết sẹo vẫn còn lưu trong ngực áo
Khoa mang hết những ngày đói khổ
Cả nỗi buồn thời bao cấp ra đi
Ai đóng dấu lên số phận, sắp bày ?

Phút cuối cùng
Bè bạn quanh đây
Có rượt đuổi cũng chẳng còn kịp nữa
Giữa khoảng cách không lời
Sấp ngửa
Giữa thấp hèn và những điều cao cả
Phút giây này, còn lại gì đây !

Chậm mất rồi
Mình đứng lại Khoa ơi
Thôi bạn nhé, chẳng bao giờ theo kịp
Đâu dễ đuổi theo điều cao đẹp
Nên chỉ đứng ngắm nhìn
Tiễn bạn mà thôi !

02.12.2009

Một chút hồn quê

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Mười 12, 2009

Một chút hồn quê nơi phố xá
Ai bỏ quên cuối vạt nắng chiều

Không ngờ hai câu thơ của tôi lại bỏ quên nơi góc quán này! Tình cờ tôi ghé lại đây, trên con đường lớn giữa thành phố bên sông Hàn này lại mọc lên một cái quán Nhà Quê nho nhỏ. Ai chẳng sinh ra từ một làng quê nào đó, chính vì thế khi gặp lại một chút hồn quê nơi phố xá thường dễ làm cho người ta lay động, nhớ về tuổi thơ ngày xưa của mình. Mấy người bạn văn nghệ của tôi ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh về Đà Nẵng chơi, đều ghé lại đây. Dường như cái vẻ mộc mạc đầy quyến rũ từ cái không gian trong lành ấy, ẩn chứa biết bao hoài niệm ấu thơ của mỗi đời người, bỗng chốc hiện về trong quán nhỏ, nó gợi lên biết bao kỷ niệm về làng quê, nơi đã ôm ấp tuổi thơ với hương đồng rơm rạ…

Cái làng ấy ra đi cùng tôi
Mà tôi nào hay biết
Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết
Con sông quê, bóng núi cứ chập chờn
Xưa, tôi sống trong làng
Giờ, làng sống trong tôi

Từ cái làng với con sông quê, từ những món ăn nhà quê ấy, nào là bánh đúc bùi bùi chấm nước mắm nhĩ, nào đĩa gà tre Quế Sơn với muối tiêu trộn rau răm thơm phức. Ăn miếng bánh đúc làm tôi nhớ mẹ tôi. Đây là đặc sản của xứ Quảng, là món ăn rẻ tiền nhất mà mẹ dành cho bọn trẻ chúng tôi ngày xưa. Cho tới bây giờ, tôi vẫn còn nhớ đủ đầy cái hương vị, nhất là mùi dầu phụng chín thơm lừng rắc với ít lá hành trên chiếc bánh tròn màu nâu nâu ấy. Các món ăn ở Nhà Quê chế biến từ đặc sản sắn của miền Trung mới nghe đã thèm, nào lươn đùm lá chuối; cá đồng, cá nục hấp, quấn với bánh tráng sắn và rau muống tươi. “Nhà Quê” mới ra phố mà đã để lại nhiều ấn tượng với những ai đã từng có một thời sống với làng quê, từng ăn những món ăn dân dã, đầy hương vị quê nhà!

Quán nằm ngay trên con đường Nguyễn Thị Minh Khai đông vui của thành phố Đà Nẵng. Một không gian tuy chưa phải là nơi lý tưởng, đúng nghĩa với “nhà quê”, nhưng ít nhiều cũng gợi lên cho khách thập phương một chút không gian, tĩnh lặng và lãng mạn khi ngồi bù khú bên nhau trên tấm phản gỗ cổ xưa, trong tiếng guitar thùng nhỏ nhẹ lồng trong những hoài niệm về làng quê ngày xưa. Nhìn món ăn là lạ, một đĩa gà tre muối tiêu Quế Sơn trộn rau răm thơm phức; một tô bánh trôi nước xào rau muống tỏi đậm đà…
Các món ăn dân dã ấy được chế biến từ đặc sản của đất “chưa mưa đã thấm”, được các nghệ nhân lâu năm ở xứ Quảng này chế biến; tất cả đều mang hồn quê, chan chứa mùi vị của dân gian. Giữa phố xá đông người với bao nhiêu thức ngon vật lạ, đắt tiền, càng làm cho vẻ đẹp của những món ăn dân dã này thêm quyến rũ. Nói cho thi vị, hình ảnh một tí, đấy là vẻ đẹp của người con gái nông thôn giữa chốn thị thành! Điều lạ lẫm hơn, chủ quán này là một cậu con trai chưa đầy 30 tuổi, còn rất trẻ. Tuy nghề chính là cán bộ ngân hàng, nhưng chẳng biết vì lẽ gì mà Hà Phước Tuấn lại đam mê chuyện hoài cổ với những món ăn “nhà quê” ấy! Tuấn cười và nhỏ nhẹ với tôi rằng: Ai cũng ra đi từ một làng quê nào đó, mỗi người ít nhiều đều gắn với những món ăn thời thơ ấu của mình. Cho dù bây giờ họ đang sống sung túc ở thị thành, nhưng tình cờ gặp lại không gian “quê nhà” ấy, họ đều muốn quay về với cội rễ, đúng hơn là có dịp để họ nhận ra chính mình giữa cuộc đời này.

Chông chênh

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Tám 19, 2009

Tìm đâu ra
cuối truông sâu
Dấu chân xưa
lấp trong màu thời gian
Khơi lên từ đống tro tàn
Biết còn không
ánh trăng vàng ngày xưa

Trời đang nắng
bỗng nhiên mưa
Đâu đây có tiếng ai vừa gọi tôi
Nửa nghe nhỏ nhẹ, xa xôi
Nửa thân quen, ấy là tôi . Rất gần

Đầu ghềnh
còn đứng phân vân
Cuối truông lạc bước phong trần
Về đâu ?
Chân dò chưa hết nông sâu
Đã quay lại với nhịp cầu chông chênh
Sắc, không chân bước gập ghềnh
Cõi mơ hồ ấy buồn tênh phận mình

Từ trong lục lạc vô minh
Bày ra bao nỗi nhân tình, bể dâu
Cuối truông về lại sông sâu
Còn gì đây mối duyên đầu phôi phai

Thôi thì chân bước, dặm dài
Chút tình xưa biết còn ai tỏ bày
Một đời ngẫm lại, mới hay
Chưa bao giờ được đắm say yêu người !

Thêm một ngày đáng nhớ trong đời
20/8/2009

ĐỌC DƯỚI TRĂNG CÙNG KAZIK CỦA NGUYỄN NGỌC HẠNH

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Tám 3, 2009

Trần Thiện Anh

                        
Ông ngồi lặng yên không nói gì
Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông
Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn

Tôi đâu có nói gì cùng Kazik
Mà sao đền tháp cứ nhìn tôi
Mà sao vũ nữ Chăm ngưng múa hát
Thần Shiva níu thời gian trôi dạt

Ông chạm vào đá hồi sinh
Những mất đi, sanh nở
Dưới lớp rêu mờ tỏ
Lấp lánh hơi ấm bàn tay Chămpa trong đó

Những đền tháp và những vụn nát
Giữa thung lũng trần gian
Như con tò vò chằm vá cần mẫn
Nỗi niềm say mê tạo tác

Phải chi tôi đừng nói gì
Vầng trăng kia sẽ trò chuyện cùng ông
Cổ tháp kia sẽ lặng lẽ cùng ông
Về những đổ vỡ trinh bạch
Những vụn nát đền đài

Ông ngồi lặng yên không nói gì
Nhìn vầng trăng trên tháp
Tạc câu ca Chăm lên ngực
Chạm vào điệu múa đất đai

Làm sao có thể kiệm lời
Trước thần Shiva và tượng mất đầu
Giữa hằng hà thiện ác.

Bài thơ này làm tôi nhớ đến người kiến trúc sư Ba Lan tài hoa mà tôi có may mắn được gặp một lần bên tháp Chàm Mỹ Sơn lần tôi qua xứ Quảng. Và qua đó tôi biết ông đã dành cả phần đời còn lại để giúp Việt Nam phục chế, trùng tu lại những tháp chàm hoang phế bao đời. Bài thơ có 4 nhân vật: Kazik, Cổ tháp, Trăng và tác giả (tôi). Kazik ngồi không nói. Tác giả ngồi không nói. Cổ tháp điêu tàn như đang nói bằng đổ vỡ, như kêu cứu. Chỉ có Trăng trò chuyện cùng Kazik… Bài thơ như một vết cắt lưu giữ lại thời khắc tâm trạng của người kiến trúc sư muốn phục chế lại thời gian đã mất.

Bài thơ cứ dẫn dắt như một câu chuyện kể khách quan trộn lẫn trữ tình. Một trữ tình tự sự. Tác giả phân thân vào không gian huyền thoại:

Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông
Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn…
Vũ nữ Chăm ngưng múa hát
Thần Shiva níu thời gian trôi dạt

Tác giả phân thân vào vầng Trăng để nhìn thấy đền đài đổ nát, những “đổ vỡ trinh bạch” để cảm thấu tỏ tường “con tò vò chằm vá” … thời gian đã mất. Đấy là sự phân thân đầu tiên và cuối cùng nhập hồn vào Kazik để đọc được lòng ông:

Tạc câu ca Chăm lên ngực
Chạm vào điệu múa đất đai

Vậy mà bài thơ lại như một độc thoại câm của người kiến trúc sư từ phương xa đến, làm cho người đọc tin rằng, chính cái đêm trăng bên tháp Chàm đổ nát ấy đã có thể dựng lên cả một quá khứ vàng son khi khổ thơ kết xuất hiện:

Làm sao có thể kiệm lời
Trước thần Shiva và tượng mất đầu
Giữa hằng hà thiện ác.

Tôi nghĩ bài thơ này hơi khác, lạ so với phần lớn thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh, vì cấu trúc bài thơ này mang tính đa chiều, nó giống một cái tháp mà quay quanh nó, ta đọc được nhiều vẻ đẹp khác nhau. Lại có thể vì một cái tên Tây cũng làm cho cảm xúc người đọc khác đi, bởi tự thân chữ Kazik cũng khác với những Trung những Dũng quá quen thuộc với tôi. Hay là khi viết về Kazik, chính Nguyễn Ngọc Hạnh cũng muốn thơ mình tây tây một chút cho hợp với đối tượng trữ tình?

Dù sao đi nữa thì bài thơ DƯỚI TRĂNG CÙNG KAZIK cũng mang lại cho tôi một cảm giác khác khi đọc thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, và nó để lại cho tôi một ấn tượng về Kazik, một con người từ xa đến đây và đã thực sự yêu đất nước tôi bằng chính công việc của mình như con tò vò chằm vá cần mẫn, người phục chế thời gian đã mất.

Tháng 6.2009

Tàn phai – Bước đột phá trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 30, 2009

Huỳnh Minh Tâm

   Tôi chỉ là người em, đôi lúc “bốc đồng” thì bảo “bạn tâm giao” với nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, cứ ngỡ anh vẫn còn lim ngủ trong “tháp ngà” của mạch thơ cũ … Những tất cả những điều tôi đã nghĩ về anh như vậy là hoàn toàn sai lầm. Anh vẫn là con người đa cảm đa tình với thơ, nặng nợ và đầy khát vọng với chữ nghĩa và cái đẹp, quyến luyến những giai tầng còn ẩn sâu trong xúc cảm. Gần đây, anh có viết hai bài thơ ấn tượng và hay, gợi một sức viết, sức bật mới. Bài thứ hai hẹn dịp khác. Ở đây tôi muốn giới thiệu bài thơ “Tàn phai” của anh mà tôi tâm đắc!

   Khi ánh trăng sắp tan ra trong đêm nguyệt thực
   Bầy chim ngủ yên trên cành cũng hối tiếc, bay đi
   Bay về phía bầu trời vô định, bay về đâu trong đêm mịt mù
   Mùi hoa sữa sau vườn cũng bay đi, bay mất ánh trăng
   Một chút tàn phai còn lại với mình tôi, giá lạnh

   Giai điệu thật đẹp, cách thể hiện rất mới mẻ. Hình ảnh ánh trăng, bóng chim và mùi hoa sữa cũng chỉ là quen thuộc, nhưng ấn tượng thơ anh để lại trong lòng độc giả là nét tàn phai bình dị, đơn độc của nó: tàn rồi, bay rồi, bay đi, bay mất biền biệt trong cuộc đời và tâm thức. Thơ lay động hồn người từ chỗ cái tôi trữ tình đã cất lên tiếng nói nội tâm, cái lạnh giá của thời gian vô thường sừng sững bóng núi trước mặt. Từ năm dòng “nổ” âm vang ấy, các khổ tiếp theo chấp cánh bay lên với số phận chìm nổi. Đó là dòng ý thức, là chân lý của thơ. Vì thơ luôn duyên nợ với số phận, cùng rong ruỗi với cả hạnh phúc và bất hạnh trên nẻo chông chênh gập ghềnh của đời mình:

   Giấc ngủ vẫn từng đêm chập chờn, không còn mơ thấy gì
   Không còn biết ai đã đạp vào cơn mơ hạnh phúc
   Đêm cứ thế tan ra, ngày cứ thế trôi qua, tẻ nhạt
   Ánh trăng ngày xưa từ đó cũng tan dần…

   Viết về mình hay một hình bóng xa xôi nào đó cũng là viết về nỗi đau bát ngát bản ngã bản thể của ký ức. Cơn mơ hạnh phúc ai đạp vào thật là tàn nhẫn, một hình ảnh đầy bi kịch. Nhưng quằn quại hơn có lẽ là khát vọng bị đánh cắp, là ánh trăng, là nỗi buồn, là chiếc lá theo thời gian nỗi tàn phai càng đậm nét, một tâm thể cô đơn toàn triệt trong ý thức, bộc lộ một nhu cầu cần cứu vớt, sẻ chia:

   Khi em cầm ngọn gió cuối thu
   Chiếc lá vàng rơi vào bài thơ tình phai nhạt
   Em đừng chạm hồn tôi, một nỗi niềm ẩn khuất
   Đâu phải là nơi dừng chân mà chỗ cuối của con đường

   Tác giả và nhân vật cùng gặp nhau ở chỗ ẩn khuất, ở chỗ mê cung đôi ba lần vấp phải vì sự run rấy, ruồng bỏ của tình yêu. Mà tình yêu là điểm sáng, là hy vọng của cuộc sống. Mà bây giờ số phận bị trượt ngã, ý thức bị trượt ngã, nỗi tàn phai trượt ngã… Chỉ còn thơ là đứng dậy, vực dậy một tâm hồn yếu ớt mong manh. Tôi còn nhớ tình cảm này, thi sĩ Bùi Giáng có viết đôi câu cũng rất hay: ” Những dòng lệ tuôn mấy lần khắc khoải/ Những nụ cười tròn mấy bận hân hoan/ Những ngoảnh mặt im lìm trong ái ngại/ Những bắt tay xao động với muôn vàn”.

   Ôi nỗi đời chua cay và mật ngọt, nhưng dẫu sao đời sống vẫn vẫy gọi ta dấn bước. Yêu, không yêu, yêu, không yêu là sự phân tâm của ý thức đầy trách nhiệm bản thân. Không phải vớt vát lại một nỗi mất mát lớn, một nỗi thất vọng tràn trề âm ỉ, nhưng nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh đã biết dừng ở “chỗ cuối của con đường” để tự phản tĩnh, đó là tấm lòng của tác giả để chuyển sang một hướng sống khác, một niềm hy vọng mới cho đời mình. Bởi vậy mà hai khổ thơ cuối bài thơ đã trở lại vỗ về thiết tha đòi gọi một tâm hồn nhẫn nại chịu đựng và biết yêu quý cuộc sống: ” Xin đừng vấp tiếng chim kêu/ Vỡ tan giai điệu mùa thu mượt mà trong trẻo/ Đừng để khi trở về vườn hương cũ/ Tiếng chim lạ rồi, mất giọng thơ xưa”.

   Một lời nhắn nhủ thỏ thẻ rất từ ái, rất thiêng liêng. Ánh sáng cuối đường hầm. Một tấm phao sau những ngày lênh đênh thuyền vỡ. Tàn phai, tẻ nhạt, bóng cây hiu quạnh…đó là thực tại, nhưng dẫu là gì đi nữa mỗi ngày là một niềm vui khi mở mắt ra nhìn thấy mặt trời và chốc chốc thổn thức với muôn vàn ký ức hồi thu. Nói chung, bài thơ có sức liên tưởng rộng, ngôn ngữ anh dùng tinh tế, quyến rũ, chải chuốt. Nguyễn Ngọc Hạnh biết gắn bó hữu cơ các hình ảnh để nâng các sự kiện lên tính bi kịch, thắt gút, rồi mở ra thông thoáng và đắm lại thứ cảm xúc mênh mang, mê hoặc. Theo thiển ý của tôi, bài thơ rất hay, là bước đột phá trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, nhưng hạnh phúc hơn, có lẽ vì tác giả đã được sẻ chia  nỗi đau với số phận run rủi và một tâm hồn khắc khoải mong chờ ở một tình yêu đẹp, tinh khiết cho thơ. Nói như Bùi Giáng: “Còn đọng giữa một tấm lòng thương nhớ/ Kỷ niệm ngần giá cúc với nồng sen.” 

 

Nguyễn Ngọc Hạnh

TÀN PHAI 

Khi ánh trăng sắp tan ra trong đêm nguyệt thực
Bầy chim ngủ yên trên cành cũng hối tiếc, bay đi
Bay về phía bầu trời vô định, bay về đâu trong đêm mịt mù
Mùi hoa sữa sau vườn cũng bay đi, bay mất ánh trăng
Một chút tàn phai còn lại với mình tôi, giá lạnh

Giấc ngủ vẫn từng đêm chập chờn, không còn mơ thấy gì
Không còn biết ai đã đạp vào cơn mơ hạnh phúc
Đêm cứ thế tan ra, ngày cứ thế trôi qua, tẻ nhạt
Ánh trăng ngày xưa từ đó cũng tan dần…

Khi ngồi nhớ, lại quên ngày mong nhớ
Khi nỗi buồn lấn hết những ngày vui
Không còn biết tiếng chim lạc bầy kêu khản giọng
Bay về đâu khi trăng vỡ tan rồi

Khi em cầm ngọn gió cuối thu
Chiếc lá vàng rơi vào bài thơ tình phai nhạt
Em đừng chạm hồn tôi, một nỗi niềm ẩn khuất
Đâu phải là nơi dừng chân mà chỗ cuối của con đường

Xin cũng đừng bội ước với dòng sông
Nơi ấy vẫn là nơi em đến
Vẫn là suối nguồn chảy ra biển lớn
Là bến sông xưa em neo đậu mưa chiều

Xin đừng vấp tiếng chim kêu
Vỡ tan giai điệu mùa thu mượt mà trong trẻo
Đừng để khi trở về nơi vườn hương cũ
Tiếng chim lạ rồi, mất giọng thơ xưa.

 

Qua đò nhớ mẹ

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 23, 2009

Bến sông quê 

 

 

 

 

Tôi sinh ra
từ bến sông này
Sông thì hẹp
mà quê dài rộng thế

Đời mẹ nhọc nhằn
bao mưa nguồn chớp bể
Ấp ủ đàn con
trong đôi gánh tảo tần

Bóng mẹ gầy
lặn lội bờ sông
Đêm giá lạnh
ẵm bồng ru tiếng khóc
Nỗi niềm trôi xuôi
theo con đò dọc
Trôi cả thời thiếu nữ mẹ tôi

Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !
Trên bến sông này
ngày xưa mẹ tắm
Nước tận đầu nguồn
chảy ra biển lớn
mang theo phù sa
từ sữa mẹ ngọt ngào

Đau đáu bên lòng
một khúc ca dao
Chợ sớm chợ chiều dãi dầm đời mẹ
Thân cò dạt trôi
bao mùa dâu bể
Mẹ một đời đứng tựa bờ ao

Con trở về lặng lẽ
non cao
Núi vẫn xa xanh
mẹ già không còn nữa
Nghe đâu đây
có tiếng ai vừa gọi
Bếp lửa ngời lên
trong mắt mẹ đang cười 

Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !
Sông thì hẹp
mà vô bờ đến vậy
Con đi qua hết một thời trai trẻ
Từ chiếc đò lòng mẹ
Qua sông .

Ôi con đò lòng mẹ
mênh mông !

 

28.3.2009

Ký ức làng

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Chín 30, 2008
  

Nuôi tằm  

 Ghi chép của Nguyễn Ngọc Hạnh

Xưa nay, nhiều người đã từng viết về làng quê của mình. Mỗi người một cách “về nguồn” khác nhau bằng chính ký ức và hoài niệm tuổi thơ mà họ đã từng sống, từng mang theo suốt cuộc đời mình. Tôi vốn xa làng từ nhỏ, hình ảnh ngôi làng xưa bên dòng sông Vu Gia như một kỷ niệm khó nguôi quên. Ai chẳng luôn nghĩ đến một tuổi thơ giàu có với nhiều kỷ niệm về làng quê của mình. Nhưng có lẽ chỉ điều ấy thôi, chưa đủ. Điều quan trọng hơn là tuỳ ở khả năng lưu giữ nguyên vẹn hình ảnh trong ký ức của tuổi thơ và khả năng rung động trước tất cả những gì còn dự trữ trong ký ức về làng quê ấy.

Nỗi nhớ làng luôn là tâm trạng khắc khoải, bồn chồn đến day dứt.
Cái làng ấy ra đi cùng tôi
mà tôi nào hay biết
Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết
Con sông quê bóng núi cứ chập chờn.

Đấy là những câu thơ tôi viết đã lâu rồi. Viết về cái làng Đại Hồng nhỏ bé quê tôi. Một bên là núi non thơ mộng, nơi có thắng cảnh Bằng Am – Khe Lim nổi tiếng, bên kia là con sông Vu Gia hiền hoà chảy dọc suốt tuổi thơ tôi những năm tháng chiến tranh. Trong một góc nhỏ của ký ức, tôi vẫn luôn nhớ về làng quê ngày thơ bé với biết bao vui buồn. Những chuyến đò ngang mỗi ngày mẹ tôi tần tảo buôn gánh bán bưng để nuôi anh em tôi ăn học nên người.  Nhớ những gánh loòng boong trĩu nặng của các chàng trai nông dân đi hái từ trên Hội Khách về. Loại trái cây đặc biệt này có vỏ màu vàng nhạt, ruột màu trắng gồm nhiều múi nhỏ và có vị ngọt lịm, đấy là đặc sản nổi tiếng của Đại Lộc quê tôi. Đến nơi dây, du khách thú vị biết nhường nào khi vừa thưởng thức hương vị ngọt ngào của những lòong boong đầu mùa vừa nghe các cụ già kể lại truyền thuyết rất lý thú và hấp dẫn về tên tuổi của vua Gia Long gắn liền với loại trái cây đặc sản này. Tôi được biết, mới đây, những địa danh như Bãi Quả, Đường mòn Gia Long, Hội Khách đang được chính quyền địa phương có ý tưởng phục hồi “ ngàỳ hội xả vườn” để phát triển du lịch.

Bánh tráng cuốn là đặc sản của làng tôi. Tôi còn nhớ chiếc cối xay bột, vài tấm liếp tre, một cái nồi to có bịt khung vải bao quanh để mẹ tôi tráng bánh hằng ngày mang ra chợ, bán. Ở làng tôi, hầu như nhà nào cũng có dụng cụ tráng bánh và có thể tráng được theo kiểu “tay ngang” này. Bánh tráng có thể nhiều nơi đều có, nhưng ít nơi nào ngon bằng Đại Lộc; sản phẩm này hiện nay đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng ở miền Trung.

Dâu, tằm cũng là dấu ấn sâu đậm trong tuổi thơ tôi. Ngày cha tôi còn sống, ông thường cho tằm ăn lá dâu. Lá dâu cho tằm ăn lúc tằm mới nở, phải là những lá dâu non, xắt thật nhỏ, nhuyển như thuốc rê, được rải đều lên lớp tằm con. Đến khi tắm ăn ba, chỉ cần hái lá dâu về, rửa sạch, giũ cho khô, rải nguyên lá vào nong cho tằm ăn. Làng tôi là một trong những vùng đất nổi tiếng về nghề trồng dâu, nuôi tằm. Và, mỗi lần về quê, hình ảnh cha tôi ngồi bên ngọn đèn dầu hiu hắt để xắt lá dâu cho tằm ăn khuya, làm tôi không sao cầm được nước mắt.

Nhớ làng mình ngày ấy nghèo khó, càng thương cha mẹ đã bao năm trời vất vả, chẳng có một ngày vui, yên ấm. Những mơ ước nhỏ nhoi sinh thời, lúc còn sống bao đêm hằng mong ước; từ con đường làng lầy lội đến chiếc cầu nhỏ bắt qua sông, cho tới khi nhắm mắt vẫn chỉ là giấc mơ đối với bậc sinh thành. Bây giờ mỗi lần chúng tôi chạy xe vun vút trên con đường quốc lộ 14B rộng thênh thang, trải nhựa láng bóng nối làng quê của mình với phố thị thông qua chiếc cầu Hà Nha vừa đẹp lại vừa hiện đại, trong lòng bỗng gợi lên cồn cào nỗi ước mong ngày ấy của cha tôi. Đại Lộc bây giờ đã khác xưa nhiều, không còn những con đường đầy bụi mù trong ngày nắng, lầy lội những ngày mưa; tất cả dường như đang mở ra một kỳ vọng vào tương lại tươi đẹp.

Nhiều người con của quê hương xa xứ, khi trở về Đại Lộc hình như ai cũng ngạc nhiên trước những đổi thay quá đổi bất ngờ ấy. Hồ chứa nước khe Tân, một hồ nước lớn thứ hai sau hồ Phú Ninh của tỉnh Quảng Nam đang trên đà khai thác có hiệu quả. Hầu như những con đường làng nông thôn đã bê tông hoá khắp nơi; qua rồi cảnh ngập ngụa trong bùn lầy như ngày xưa nữa . Nhiều khu công nghiệp mới mở, thu hút các nhà đầu tư đến quê tôi,  giải quyết nhiều lao động nông nhàn vào đây làm việc, đời sống của họ ngày ổn định, khá hơn. Khi trò chuyện với người bạn cũ cùng làng, anh Đặng Hùng Trận, hiện là phó chủ tịch huyện, anh cho rằng : “ Thay da đổi thịt” ở một làng quê mang nhiều ý nghĩa lắm anh ạ. Sự cải thiện đời sống của người nông dân khác với thị thành, không hề đơn giản. Thực ra, cũng chỉ mới được phần nào thôi, Đại Lộc còn phải nổ lực hơn nữa, thu hút nhiều nguồn đầu tư, tính toán thật hợp lý trong phát triển và hội nhập hiện nay, đặc biệt phải biết vận dụng, thích ứng với thực tế của quê mình để tránh sai lầm trong chiến lược định hướng vì một Đại Lộc đổi mới, đa dạng trong phát triển, đúng với mong đợi của người dân; nó không chỉ là vẻ đẹp bên ngoài mà làm sao để cuộc sống của từng con người thay đổi, tiến bộ và no ấm.

Bài thơ Làng tôi viết cách đây gần 30 năm, bây giờ đọc lại, hình như đâu đây vẫn còn nghe được lời thì thầm của một người xa quê đang hướng vọng về Làng : Cái làng ấy ra đi cùng tôi / Mà tôi nào hay biết . Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết / Con song quê bóng núi cứ chập chờn. Xưa, tôi sống trong làng / Giờ làng sống trong tôi . Có lẽ, tất cả hoài niệm ấy vẫn còn trong tâm thức mà mỗi khi có dịp trở về, cái Ký ức Làng quê ấy như gợi lên trong tôi biết bao điều mà mỗi đời người đều lặng lẽ mang theo .

                                                                                                                                                                                                                       Tháng 9 . 2008

Hai bài thơ viết thời còn đi dạy học

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Mười Một 19, 2007

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, Nguyễn Ngọc Hạnh xin tặng các Thầy Cô giáo, các bạn hai bài thơ này; đây cũng là cách tự “điểm danh” mình sau bao năm không còn đứng trên bục giảng !
 

Điểm danh

hanh41.jpg

Tôi cầm ngọn lửa trên tay
Ngọn lửa âm thầm cháy đỏ
Soi cho các em để sáng cho mình

Mỗi giờ đến lớp điểm danh
Thừa một chỗ ngồi thiếu người chia lửa
Đêm về khoảng trống cháy khôn nguôi

Lớp học nào lớp học đời tôi
Vắng một giây thôi sẽ không là tôi nữa
Đâu chỉ các em cả người giữ lửa
Cũng sợ tàn rơi rát bỏng tay mình

Đi qua chưa hết cuộc đời
Nói sao cạn tỏ
Ngọn lửa thức cùng tôi thế đó
Đã bao lần tôi tự điểm danh tôi.

Rồi cũng như đời mẹ

Tặng con gái Thu Dung
nhân ngày Nhà giáo Việt Nam ( 20.11.2007)


Rồi cũng như đời mẹ
Con sẽ lớn lên từ mái trường
Chiếc nôi của thời tấm bé
Khoảng trời xanh vời vợi yêu thương

Ơn như núi, nghĩa như sông
Ai gieo nắm chữ vào lòng
Suốt đời con ghi nhớ

Tâm hồn thơm trang vở
Trong như giòng sông xanh
Lòng Thầy đi qua đằm thắm
Âm thầm năm tháng trôi nhanh
Rồi thôi, chim nhỏ chuyền cành

Rồi cũng như đời mẹ
Con sẽ ra đi từ mái trường
Hàng cây xanh tươi trước ngõ
Bồn chồn lặng lẽ nhớ mong

Con ơi, đừng quên con nhé
Lòng Thầy trăm mến ngàn thương
Chiều nhìn ra cửa lớp
Đôi mắt Thầy tơ vương

Rồi cũng như đời mẹ
Con sẽ về với một mái trường
Giờ đầu con đến lớp
Nghe lòng mình bâng khuâng !

 Chú thích ảnh trên:
Trong đêm thơ nhân ngày Nhà giáo VN năm 1980 tại Điện Bàn, ( từ trái qua ), nhà thơ Nguyễn Hàn Chung, hiện ở Mỹ, Hoàng Tư Thiện, đã mất, Nguyễn Ngọc Hạnh, hiện là nhà báo, Nguyễn Minh Hùng ( CVP Sở GD&ĐT Tp Đà Nẵng).

Ba bài thơ về trăng

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Chín 17, 2007

Bóng trăng

Vầng trăng hư ảo trong chiều
Dạt trôi và dạt trôi nhiều dạt trôi
Hoàng hôn ngậm cỏ cùng tôi
Bóng trăng xa có ngậm nguì bóng ai

Nuí ngồi đợi đến tinh mai
Tôi ngồi một bóng bên ngoài trùng khơi
Bóng trăng cùng với bóng tôi
Khuất trong bóng nuí gặp lời cổ nhân.

Dưới trăng

Vầng trăng đầu tháng xa xôi
Dưới trăng cây cỏ cùng tôi sững sờ
Vẫn là cổ tích hoang sơ
Vẫn trăng, trăng cuả bây giờ đó thôi

Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Câu thơ hao khuyết một thời còn đây
Lâu rồi đâu dễ ai hay
Trăng non trăng vẫn còn đầy vầng trăng.

hanh28.jpg   

Đêm trăng bên mộ Hàn Mặc Tử

Bay mất ánh trăng

Khi ánh trăng sắp tan ra trong đêm nguyệt thực
Bầy chim ngủ yên trên cành cũng hối tiếc, bay đi
Bay về phía bầu trờI vô định, bay về đâu trong đêm mịt mù!
Mùi hoa sữa sau vườn cũng bay đi, bay mất ánh trăng
Một chút tàn phai còn lại với mình tôi, giá lạnh

Giấc ngủ vẫn từng đêm chập chờn, không còn mơ thấy gì
Không còn biết ai đã đạp vào cơn mơ hạnh phúc
Đêm cứ thế tan ra, ngày cứ thế trôi qua, tẻ nhạt
Ánh trăng ngày xưa từ đó cũng tan dần…

Khi ngồi nhớ, lại quên ngày mong nhớ
Khi nỗi buồn lấn hết những ngày vui
Không còn biết tiếng chim lạc bầy kêu khản giọng
Bay về đâu khi trăng vỡ tan rồi

Khi em cầm ngọn gió cuối thu
Chiếc lá vàng rơi vào bài thơ tình phai nhạt
Em đừng chạm hồn tôi, một nỗi niềm ẩn khuất
Đâu phải là nơi dừng chân mà chỗ cuối của con đường

Xin cũng đừng bội ước với dòng sông
Nơi ấy vẫn là nơi em đến
Vẫn là suối nguồn chảy ra biển lớn
Là bến sông xưa em neo đậu mưa chiều

Xin đừng vấp tiếng chim kêu
Vỡ tan giai điệu mùa thu mượt mà trong trẻo
Đừng để khi trở về nơi vườn hương cũ
Tiếng chim lạ rồi, mất giọng thơ xưa.

Đâu rồi giấc mơ cỏ xanh

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Tám 29, 2007

Đấy là khi bầu trời không còn bình yên

Khi gót chân em dẫm lên chiếc bóng hạnh phúc nhỏ nhoi dưới chân mình

Đâu rồi giấc mơ cỏ xanh

 

Đâu rồi tiếng chim hót trong vườn địa đàng

Một chút nắng thu, một trời thơ mộng

Đâu rồi ngày em, như là ảo vọng

Bây giờ còn đâu, mình tôi một bóng !

 

Đấy là vườn xưa, nơi gieo hạt tình yêu

Xin gửi đời tôi vào đất đai, cỏ cây, hoa lá

Gửi vào đại dương một thời sóng cả

Biển đâu bến bờ, vô tận giữa trùng khơi

 

Biển ấy là tất cả đời tôi

Xin rót hết những ngày mưa, chở che hết những chiều giông bão

Một chút nắng vàng, một chiều mây phủ

Đâu phải hoàng hôn mờ mịt chốn địa đàng

 

Nơi ấy là cát bụi trần gian

Là tất cả của gừng cay, muối mặn

Là nửa gánh nỗi niềm, một đời sâu nặng

Đâu phải vô tình lạc vào chốn thiên thai

 

Khi tiếng chim không còn hót giữa tinh mai

Mới biết vườn địa đàng kia chỉ là cổ tích

Ký ức một thời trong đêm trừ tịch

Còn lại gì đây ngoài trái tim thơ .

Hội ngộ Văn chương giới thiệu thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Bảy 15, 2007

post by vanchuong @ 14 July, 2007 16:52

ngngochanhcd1.jpg

HNVC: Nguyễn Ngọc Hạnh là nhà báo làm thơ, nhưng thơ anh lại rất xa nghề báo. Anh lặng lẽ chiêm nghiệm về mình, về những con người quanh mình với một giọng thơ trầm lắng, đầy thương cảm. Và có lúc anh đã không kìm được lòng thương cảm chính mình: “Người ơi, tôi cúi hôn mình trên sông”. Nếu người lướt mạng chịu khó dừng lại trên những bài thơ mạng, và quên đi những mời mọc phủ dụ ồn ào của đám đông, bạn sẽ có thể mềm lòng cùng lặng lẽ…

VỀ QUÊ

Không còn rét ngọt mưa trong Ngày xưa biết có chờ mong bây giờ  Qua sông ngồì nhớ con đò  Nhớ hòang hôn lẫn câu thơ ban chiều

Không còn ấp úng lời yêu Mình tôi ngồi nhớ bao điều xa xôi  Nhìn dòng sông nước cuốn trôi  Thời gian chảy mãi về nơi vô cùng

Con đò năm ấy còn không? Mà sao bến cũ vẫn trông theo người Bây giờ tôi với mình tôi Dọc bờ sông nắng bên đồi mong manh

Không còn thì thôi xin đành Người ơi, tôi cúi hôn mình trên sông.

HẠNH PHÚC LẶNG LẼ

Đã lâu, người đàn bà sống lặng lẽ trong ngôi nhà hạnh phúc chật chội của mình. Lặng lẽ cam chịu như là số phận.

Từng đêm vầng trăng ngoài ô cửa nhỏ kia không sẻ chia hết những u hoài trong đôi mắt thiếu phụ. Có điều gì thẳm sâu, ẩn ức, nuối tiếc khôn nguôi. Tâm hồn thì ngào ngạt hương thơm, bồng bềnh nắng thu, nhỏ nhẹ tiếng dương cầm. Mà đơn lẻ một mình giữa bốn bề hoang vắng, thiếu tri âm. Lặng lẽ vui rồi lâu ngày lại buồn. Lặng lẽ quên, lâu ngày vẫn nhớ. Lặng lẽ làm hết mọi điều để lấp đầy nỗi trống vắng mà sao vầng trăng cứ đi ngang qua ô cửa lạnh lùng. Ít ai biết bên ngoài sự tĩnh lặng là nỗi lòng của những ngọn sóng, của những cơn khát xô bờ. Biển thì mênh mông, đất trời cao rộng. Khát vọng những cánh buồm. Lặng lẽ đêm hoang vu. Lặng lẽ ngày mong đợi. Một mình.

Ít ai biết người đàn bà luôn nhớ về những hoài niệm, một thời đã xa với bao ký ức tuổi thơ như một giấc mơ đẹp để quên đi nỗi bơ vơ lặng thầm ẩn sâu trong lòng. Cứ tưởng rồi thời gian sẽ qua, sự bù trừ ở đời sẽ lấp dần những trống vắng. Mà điều ấy lại không giản đơn như vậy.Cuộc đời này đã bày ra những bi kịch, và so le của những số phận đều có ý nghĩa của nó. Có người đàn bà hạnh phúc nào không qua khổ hạnh. Cái đẹp thường không đi cùng với sự suôn sẻ.  Có phải vì thế mà sự cam chịu lâu ngày trở nên đức hạnh? Khi tất cả đi qua, dọc bờ sông phải xói mòn để giữ gìn vẻ đẹp của dòng sông.

Mất mát là để tồn tại theo cách của mình, để được là mình. Ít ai hiểu nỗi lòng ấy.  Cả người đàn ông mà em mong đợi cũng không thể hiểu hết bên trong cái vỏ lung linh ấm áp kia có chứa nổi tâm hồn mình? Hay cũng như em, hạnh phúc đều là những tạm bợ giữa cõi đời này. Lấy cái dịu ngọt mơ hồ mà nâng niu ; lấy cái cảm thấy mà tô thành tranh vẽ. Có khi tôi đã vẽ cả những bất hạnh trở thành niềm vui mà mình không hay biết. Cũng lẽ thường thôi, có bao nhiêu người đến cuối cuộc đời vẫn chưa nhận ra nổi chân dung hạnh phúc riêng mình.

Cuộc đời dễ gì có sự hoàn thiện. Hạnh phúc cho những ai đi tìm cho ra một nửa của mình. Một nửa thế giới. Âm dương. Ánh trăng. Mặt trời. Trái đẩt. Tôi tin vào một nửa của kiếp trước, và một nửa của kiếp sau. Tin vào cái đẹp.

Lặng lẽ nhận ra mình, nhận ra một nửa của mình như là một bù đắp cho bất hạnh. Không biết rồi tâm hồn tôi có chật chội như căn nhà hạnh phúc của em không? Hay cũng như vầng trăng kia dửng dưng đi qua ô cửa lạnh lùng.

KAZIK

Ông ngồi lặng yên không nói gì Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn

Tôi đâu có nói gì cùng Kazik Mà sao đền tháp cứ nhìn tôi Mà sao vũ nữ Chăm ngưng múa hát Thần Shiva níu thời gian trôi dạt

Ông chạm vào đá hồi sinh Những mất đi, sanh nở Dưới lớp rêu mờ tỏ Lấp lánh hơi ấm bàn tay Chămpa trong đó

Những đền tháp và những vụn nát Giữa thung lũng trần gian Như con tò vò chằm vá cần mẫn Nỗi niềm say mê tạo tác

Phải chi tôi đừng nói gì Vầng trăng kia sẽ trò chuyện cùng ông Cổ tháp kia sẽ lặng lẽ cùng ông Về những đổ vỡ trinh bạch Những vụn nát đền đài

Ông ngồi lặng yên không nói gì Nhìn vầng trăng trên tháp Tạc câu ca Chăm lên ngực Chạm vào điệu múa đất đai

Làm sao có thể kiệm lời Trước thần Shiva và tượng mất đầu Giữa hằng hà thiện ác.

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyennamtran on Tháng Bảy 4, 2007

TRỞ LẠI MỸ SƠN

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyennamtran on Tháng Sáu 25, 2007

qn2.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh

Trong lễ hội Quảng Nam Hành trình di sản lần thứ 3, năm 2007, có cuộc hội ngộ của 3 di sản nổi tiếng, đó là Khu di tích đền tháp Mỹ Sơn  ( Việt Nam ) – Vatphu ( Lào ) – AnKor ( Camphuchia ) . Chương trình sẽ diễn ra lúc 19 gìơ, ngày 28 /6/2007 tại Thánh dịa Mỹ Sơn. Đây là một chương trình giao lưu nghệ thuật độc đáo mang tính dặc trưng của 3 di sản nổi tiếng ở khu vực Đông Dương này…
 
“Có đến thung lũng này vào buổi hoàng hôn, các anh mới thấy được hết vẻ đẹp của phế tích Mỹ Sơn. Những ngôi tháp cổ bỗng chốc sẽ trở nên lung linh, huyền ảo trong nắng chiều và dường như các nàng vũ nữ Apsara lại tiếp tục vũ điệu ngàn năm của mình…” Anh Nguyễn Công Hường, Trưởng ban Quản lý Khu di tích này đoan chắc như đinh đóng cột với chúng tôi như thế ! 

Trở lại thánh đường xưa
Cách trung tâm TP Đà Nẵng 70 km về hướng tây nam, thánh địa Mỹ Sơn nằm ẩn mình giữa một thung lũng kín đáo. Đó là một quần thể gồm hơn 70 đền tháp được xây dựng để thờ phụng những vị thần bảo hộ cho các vị vua Chămpa, nên từng được gọi là Thánh đô. Trong nhiều thế kỷ, người Chăm đã dựng nên một quần thể kiến trúc độc đáo, toàn bộ quần thể đền tháp này được xây dựng bằng chất liệu gạch nung và đá sa thạch. Từ tháng 12.1999, UNESCO đã công nhận phế tích này là một trong những di sản thế giới. Tại đây có thể bắt gặp hầu hết phong cách kiến trúc qua các thời kỳ của người Chăm. Mỹ Sơn là nơi phục dựng lại phần nào hình ảnh của một vương triều Chămpa từng rất hưng thịnh trên dải đất miền Trung. Những phù điêu, tượng đá tại đây thể hiện phần nào tín ngưỡng và khát vọng của người Chăm. Đó là chưa kể đến hàng trăm tấm bia đá khắc đầy ký tự cổ là những tư liệu khảo cổ vô cùng quý giá. Không quá hùng vĩ như các đền Ankor (Campuchia), cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi làn sóng du lịch như đô thị cổ Hội An, nhưng Mỹ Sơn vẫn cuốn hút được nhiều du khách bởi nét trầm mặc rất riêng của mình. Trong từng viên gạch, từng tấm phù điêu vũ nữ đang say múa, từng ngôi tháp cổ đổ nát… tất cả như đang kể cho khách phương xa những câu chuyện về một thời kỳ rực rỡ đã qua.
Anh Hường nói như trong sách chép ra với đoàn chúng tôi vậy, cứ nhỏ nhẹ, lan man mà sao dường như ai cũng như bị thôi miên, hồn phách chìm vào trong thế giới đầy huyền bí với lời kể tóat ra từ đôi mắt sâu thẳm của anh :”  Khoảng 4 đến 5 giờ sáng, lúc bóng tối sắp ra đi nhường thiên nhiên cho ánh sáng, rừng Mỹ Sơn chầm chậm sáng lên, một thứ ánh sáng non nớt bao trùm lên cảnh vật núi non cây cối và đền tháp. Những ngọn tháp ở Mỹ Sơn giống như vừa được tắm gội, những viên gạch lấp lánh sáng, và ửng hồng dần trước bình minh.

Khi ấy du khách hãy đi thật chậm quanh cái đền thờ theo chiều quay trái đất từ đông sang tây (đây là cánh đi của người xưa và của những thiền sư phái Mật tông Đại Thừa). Đi như thế nhiều vòng, du khách sẽ thấy những hiện tượng đặc biệt xảy ra trong nội tâm… Có người thấy mình như một kẻ lữ hành cô độc vất vưởng trong thế giới lạ lùng của đền tháp, trong ảo ảnh của thung lũng, cây cỏ và núi rừng.
Đêm Mỹ Sơn – nhất là những đêm trăng sao, du khách có cảm tưởng rằng chỉ cần leo lên những ngọn núi kia sẽ đưa tay hái được cả trăng và sao.
Ngồi ngắm sao trời và suy ngẫm về sự vận hành của vũ trụ, của các tinh tú du khách sẽ thấy gần gũi thân mật với thiên nhiên và hình như giữa con người và thiên nhiên không còn phân cách. Dưới bầu trời tinh tú bao la, những tư tưởng chật hẹp, ích kỷ sẽ biến mất, chỉ còn thấy sự đổi thay kỳ diệu nhiệm mầu của thiên nhiên. Trong giây phút tĩnh lặng ấy, du khách sẽ nghe được tiếng nói của những viên gạch vỡ, của những bức tượng cụt đầu, nghe được tiếng vó ngựa, tiếng gươm khua, và tiếng những ngôi đền đổ sụp giữa thinh không ! “
Quả  thật  vậy , đã hàng ngàn năm trôi qua mà vẫn không làm phai được sắc đỏ thắm của viên gạch nơi tháp cổ này. Ẩn đằng sau những ngôi tháp trầm mặc trong ánh chiều tà kia là một kỹ thuật xây dựng bí ẩn, nhuốm màu huyễn hoặc. Có nhiều giả thiết về chất kết dính giữa các viên gạch trên tháp Chăm, nhưng vẫn chưa có được câu trả lời. Có người còn cho rằng những nghệ nhân Chăm xưa kia đã chất đất sét thành hình những tòa tháp rồi mới nổi lửa nung. Có phải vì những màu sắc huyễn hoặc này mà những ngôi tháp Chăm kia mãi mãi có một sức hút thật khó cưỡng lại với những ai đã từng một lần đến Mỹ Sơn. Thật và ảo, vàng son và đổ nát…, tất cả đã làm nên một tình yêu đắm say với Mỹ Sơn trong lòng du khách phương xa lạc bước vào thung lũng này.
Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva – Ðấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần – vua và tổ tiên hoàng tộc.

Cảo thơm lần giở trước đèn…
Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ XX này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn thông Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố.
Tiền thân của quần thể kiến trúc Mỹ Sơn cổ kính này, theo căn bia để lại là một ngôi đền làm bằng gỗ để thờ thần Siva Bhadresvera. Nhưng đến khoảng cuối thế kỷ VI, một cơn hoả hoạn đã thiêu cháy ngôi đền gỗ. Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của dân tộc Chăm suốt từ cuối tế kỷ IV đến thế kỷ XV. Bằng vật kiệu gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Ðền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo. Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy loàng của văn hoá kiến trúc chămpa cũng như của Đông Nam Á
Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, rất đặc trưng. Trong nhiều công trình kiến trúc còn lại khi phát hiện (1898) có tháp cao tới 24m, trong khu vực Tháp Chùa mà các sách khảo cổ, nghiên cứu về Mỹ Sơn có ký hiệu là tháp cổ Chăm Pa, có 2 cửa ra vào phía Ðông và phía Tây. Thân tháp cao, thanh tú với một hệ thống cột ốp. Xung quanh có 6 tháp phụ, toàn bộ ngôi tháp 2 tầng toả ra như cánh sen. Tầng trên, chóp đá sa thạch được chạm hình voi, sư tử, tầng dưới, mặt tường là hình những người cưỡi voi, hình các thiên nữ thuỷ quái. Nhưng ngôi tháp giá trị này đã bị không lực mỹ huỷ hoại trong chiến tranh, năm 1969.
Sau khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu biểu trong đó đặc biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ phượng của dân tộc Chăm, những con vật thờ cũng như những cảnh sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố Ðà Nẵng xây dựng thành bảo tàng kiến trúc Chămpa. Tuy không phải là nhiều, nhưng những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu, nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, nhưng hơn thế nữa, có là những chứng tích sống động, xác thực lịch sử của một trong những dân tộc trong cộng đồng Việt Nam giàu truyền thống văn hoá.

Mỹ Sơn 20.6.2007

Hồn quê trong thơ Bùi Xuân

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Sáu 25, 2007

                                                                                                                                                                    p1010125.jpg

                                                                                                                                                                      Nguyễn Ngọc Hạnh

Ai chẳng có một hồn quê canh cánh bên lòng. Mỗi người gắn với cây đa bến nước, con đò, nơi mình sinh ra một cách khác. Và họ nhớ quê cũng khác. Cái hồn quê trong Bùi Xuân làm cho người ta dễ nhận ra – anh mang nó đi lang thang trên đường phố rất chân quê, không cố làm cho ra dáng vẻ thị thành. Có lẽ ai đã gặp Bùi Xuân, khi đọc thơ anh càng thấy cái hồn quê ấy trải ra trên trang viết giản dị, chân chất như những hàng chum đứng đợi mưa như nguời  mẹ đem hong đôi thúng / buổi mai nắng vàng au / con ngồi chơi rải sỏi / bông bí rụng trên đầu …    Cả tập “ Thơ đề trên chiếc lá rụng” của anh như một lời tâm tình, có khi tưởng như không bày tỏ cùng ai, nhưng đó là lúc Bùi Xuân đang sống lại với tuổi thơ mình bên dòng Vu Gia, quê hương yêu dấu của anh:

     Đi một quãng đường lại gặp kênh gặp sông
     Nhìn nhà ai lại thấy mương thấy giồng …
     Quê hương anh nhìn lên thấy núi
     Anh muốn gánh núi vào để em nghe tiếng suối…

                                                                            ( Anh về hái lá trầu nguồn )

Cả lúc Bùi Xuân đang vui chơi bên con, anh vẫn hoài niệm về một vùng tuổi thơ yên ả bên sông : Con lộn vòng lộn vòng, trên bãi sông Vu Gia / để tuổi thơ rào rào trong ba /Cát  trắng . Rồi anh chợt nhận ra những tham vọng hoang tưởng, những trống vắng khắc khoải giữa đời thường như mây khói : Chỉ còn lại còn lại / Hòn Chồng / Dội  Đá / Con / Ba / Và dòng sông quê nội. Thế là hướng vọng về nguồn, bởi nguồn là nơi anh sinh ra. Khi tàn cuộc lắm người mới nhận ra cái gốc rạ đầu làng, họ quay về tạ lỗi với dòng sông. Còn anh bây giờ đang ngồi ở phố mà nhớ làng xưa chừ cỏ mọc / ở đậu nơi quê người, và anh nhớ mẹ :

     Trơ trọi một mình
     Biết lấy ai làm giàn bầu giàn bí
     Mẹ nhặt nhạnh quanh vườn nhánh gai lẻ củi
     Làm một giàn khổ qua

 Khổ qua ra hoa kết trái, tuy da sần vị đắng, mà bát canh nhà mẹ ngọt lành. Nếu từng ấy thì vẫn chưa có gì mới, cho đến mấy dòng cuối tứ bài thơ lắng đọng, đẩy cảm xúc của nhà thơ về nỗi nhớ quê, thương mẹ đến nao lòng:

     Đời mẹ
     Một đời quả đắng
     Ngọt lành lấy ai sẻ chia

                                                       ( Giàn khổ qua của mẹ )

Ngồi ở phố mà hồn thì ở quê. Quê thì bao giờ cũng nghèo, cơ cực. Cái làng của Bùi Xuân ở tận đầu nguồn sông Vu Gia, Đại Lộc. Cũng là làng tôi. Nơi ấy từ lâu  rồi vẫn khổ. Bây giờ, tuy có chén cơm gạo trắng nhưng không phải đứa trẻ nào cũng ăn no. Tôi còn nhớ nồi cơm bắp đỏ như máu ngày xưa rực cả trời chiều. Cả làng có mấy người mặc ấm.Tuổi thơ Bùi Xuân là vậy. Nghèo quá, nên dễ thương người, dễ thành thi sĩ!? Từng ở dưới đáy sâu của sự nghèo khó nên tâm hồn anh dễ rung động trước bao dâu bể :

     Dưới đáy
     Có giấy lộn và bì nilon được bới lên từ những đống rác
     Đem trải ra bên lề đường cho nắng gió hong khô
     Đổi lấy bát gạo …

     Và từ nỗi đau ấy, Bùi Xuân lại nhớ về dòng sông tuổi thơ, đúng hơn là anh muốn quay về cội nguồn tinh khiết của hồn quê :

   Ánh sáng thì đầy, cõi lòng thì tối 
   Nước mưa ngập đường không tìm ra con thuyền giấy và dòng sông tuổi thơ  
                                                                                                                                      (Dưới đáy )

      Đọc Bùi Xuân tôi lan man nhớ về hồn quê trong thơ Nguyễn Bính. Ngày trước, cô gái quê xa làng lên tỉnh một hai hôm, nhà thơ đã lo canh cánh, sợ “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Có phải vì thế mà ngày nay, Bùi  Xuân ra phố cứ lớ ngớ, lơ ngơ, dường như ngần ngại cái hồn quê của mình bay mất. Mà đâu chỉ những người làm thơ, ai chẳng mang trong lòng một cái làng bé nhỏ bên sông như thế. Mang theo để mỗi bận trở về ngẫn ngơ, nhớ thương da diết :

      Tôi trở về với con đường tôi xưa
      Có hàng tre treo những tổ chim dồng dộc
      Viên cuội trắng tình cờ nhặt được 
      Tuổi thơ tôi hạnh phúc một đôi lần
 
                                                                             (Trở về cùng mùa xuân )

  Thơ Bùi Xuân hồn hậu, chân chất, không màu mè tô điểm. Nhưng chỉ cần một sự dễ dãi sẽ hóa thành đơn giản. Cái cảm xúc dâng tràn là hết sức cần thiết, hãy để nó chảy ra như nhiên. Đôi lúc Bùi Xuân can dự vào quá sâu làm mất đi vẻ tinh khiết vốn có. Cũng không cần lý giải. Bởi anh đâu có dụng ý to lớn như một vài người viết giới thiệu về anh. Tôi sợ những lời khen ấy sẽ làm mất đi cái đôn hậu đáng yêu. Bùi Xuân dung dị, chân quê, và cả mềm yếu nữa. Có lẽ mỗi người làm thơ đều có lý khi nói về thơ theo cách cảm nhận của riêng mình. Với tôi, vẫn mong Bùi Xuân có độ khái quát sâu hơn, ẩn ức hơn, đa nghĩa hơn trong cấu tứ, mà đó cũng là xu hướng mới của thơ ca. Dầu sao một người từ làng đi ra phố, Bùi Xuân cũng như một vài người bạn của tôi thừa hiểu mình phải sống như thế nào, hiểu tường tận đến đâu về nếp thị thành để mãi nuôi dưỡng cái hồn quê mà Bùi Xuân đã từng đề trên chiếc lá rụng.                                                                                                                                                                         

Khi chiếc cầu bắc qua sông

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyennamtran on Tháng Tư 2, 2007

 

cau-song-han-dem.JPG                                                       Nguyễn Ngọc Hạnh   

                                                               

Thế là sắp qua rồi hình ảnh của những chuyến phà qua lại trên sông Hàn mỗi ngày. Ký ức của bao lớp nguời Đà Nẵng sẽ còn lưu lại mãi những kỷ niệm khó mờ phai; những vui buồn trăm năm từ bóng dáng con đò của một thành phố bên sông sẽ luôn là nỗi nhớ khôn nguôi của người Đà Nẵng.Khi chiếc cầu bắc ngang qua sông, sẽ có nhiều niềm vui mới và không ít nỗi nhớ về chuyến đò ngang nối hai bờ sông ấy. Niềm vui và mơ ước bao năm về sự ngăn cách giữa hai bờ phố nay đã tới rồi. Một bờ là sự lộng lẫy, sang trang của thiếu nữ đài các thành thị, bờ kia là cuộc sống lầm lũi an phận như một làng quê, phải gánh chịu như là số phận. Cách một con sông hẹp, mà bao sự chông chênh, khác biệt. Hai đời sống hai bờ con sông Hàn này lại khác nhau đến vậy? Nhiều người băn khoăn không hiểu vì sao thời trước lại dồn hết hai chiếc cầu về bờ
Nam của dòng sông, không nghĩ đến một cây cầu bắc ngang qua giữa trung tâm thành phố? Điều ấy đã có nhiều người, nhiều cách giải thích rồi, riêng tôi chiều nay đi dọc bờ sông, qua lại trên chuyến phà cuối cùng này để nghe thấy nỗi buồn man mác lấp lánh trên đôi mắt của người lái đò và hành khách trên sông. Làm sao mà không dấu được nỗi buồn khi phải chia tay với dòng sông bao nhiêu kỷ niệm. Những chuyến đò ngang sông Hàn rồi cũng trở thành ký ức vì một thành phố tương lai của thế kỷ mới. Và biết bao người trong những ngày tháng ba lịch sử này vừa mong chờ chiếc cầu bắc qua sông, họ vui không dấu được những tiếc nuối vì phải sắp xa rồi một kỷ niệm đẹp như đã gắn bó từ thời thơ ấu. Người lái phà càng luyến tiếc hơn ai hết. Tôi nhìn thấy trong mắt các anh ánh lên những nỗi buồn, bởi họ sắp chia tay với bến sông, chia tay những nắng sớm, mưa trưa của bao tà áo trắng tới trường, của những lam lủ, tảo tẩn trên vai người buôn gánh, xa rồi những bóng dáng quen biết tường tận qua sông mỗi ngày. Người lái phà nói với chúng tôi: “ Khó ai biết được tâm trạng của chúng tôi, anh ạ! Mấy mươi năm với sông nước, với bao tình cảm in đậm trong lòng, bỗng nhiên phải rời xa cai công việc mà nó tưởng như phải thấm vào máu thịt, lịm trong từng giấc ngủ của mình. Làm sao diễn tả đựoc với anh về niềm vui từng ngày từ khi khởi công xây dựng cây cầu qua sông Hàn đến nay, đặc biệt là khi cầu nối nhịp. Nhưng niềm vui lớn và nỗi buồn nhỏ của những lái đò hòa lẫn vào nhau tạo ra một thứ cảm giác vừa dịu êm vừa tiếc nuối điều gì!” . Nhắc mới nhớ, nhiều người ở đoạn Cầu Vồng, đường Lê Duẩn ngủ một đêm thức dậy, hàng loạt những ngôi nhà lâu nay bị lấp khuất bỗng dưng được giải  phóng đứng uy nghi với một mặt tiền loại nhất nhì thành phố. Giải tỏa Cầu Vồng đã mang lại cho người dân ở đây mỗi người một “ vé số độc đắc” như gặp trong mơ. Nghe nói, mỗi chiều người dân ở dãy phố này tề tựu với nhau để ăn mừng, nhưng khi nâng ly lên để xuống một hồi thì họ lại nhớ đến tuổi thơ mình với những đêm trăng sáng ngồi bên nhau trên lưng của Vồng. Nhớ lắm Vồng ơi! Còn nữa, bao nhiêu thế hệ sinh viên khi trở về truờng cũ làm sao không nuối tiếc những hàng cây một thời kỷ niệm trên đường Lê Duẩn. Con đường của bao mối tình học trò thơ mộng nhưng rồi cũng đi vào ký ức, bởi vì đấy là quy luật, sự dời đổi vì một hạnh phúc, vì một tuơng lai của đô thị hiện đại ở miền Trung. Cho nên cái cảm giác của nguời lái phà trong những ngày này cũng là dể hiểu và mãi mãi đó là cảm xúc có thật giữa được mất mát đời người. Mà có sự chọn lựa nào không phải mất mát đâu, đôi khi mỗi người đành phải hy sinh một ít vì mục tiêu cao cả của lợi ích cộng đồng. Khi chiếc cầu bắc ngang qua sông, cuộc sống của cư dân bên bờ Đông sẽ gần thêm hơn với nửa phố bờ Tây, khoảng cách ấy sẽ thu hẹp dần. Từ kinh tế, văn hóa và mới giao lưu cần thiết của nếp sống thành thị cũng từ đó mở rộng ra cho một Đà Nẵng tương lai ngang tầm với các thành phố lớn trong cả nước, để không còn hình ảnh đượm buồn trong câu hát ngày xưa: Đứng bên ni sông Hàn ngó bên tê sông Hàn thấy nước xanh tàu lá/ Đứng bên tê sông Hàn ngó bên ni sông Hàn thấy phố xá thênh thang… Người dân bờ Đông sẽ không còn thói quen khi đứng bên kia cây cầu mới chỉ sang bên này mà gọi là “qua Đà Nẵng” nữa. Tuy điều ấy còn phải chờ thời gian, nhưng chắc ai lại chẳng tin vào một ngày mai như thế. Một ngày mà biết bao thế hệ mong đợi, mong đợi từ lâu. Rồi mai đây, có người trở về ngồi bên bờ sông, nhìn hình ảnh chiếc cầu mới bắc ngang trong chiều với những tà áo trắng tung bay mà nhớ da diết thời qua sông đi học. Mỗi người quay về ký ức đò ngang một cách khác nhau để chiêm nghiệm và tìm lại bóng dáng mình qua bên sông. Và biết đâu chuyến phà cuối cùng qua sông Hàn sẽ là cái mốc cho mai sau về một Đà Nẵng mới. Trước và sau sự kiện lịch sử này, người ta hy vọng thành phố bên sông Hàn sẽ mở ra một chương mới về xu thế hội nhập và phát triển ngay trên chính vùng đât của quê huơng mình. Chuyện về chuyến phà và chiếc cầu bắc qua sông sẽ mãi lưu giữ trong tâm hồn người Đà Nẵng. Còn mấy hôm nữa là đến ngày cuối cùng của đò ngang, bao nhiêu tiếng đồng hồ nữa thì chiếc cầu sẽ nối hai bờ sông Hàn. Dọc bờ sông ấy đổ dồn ra đây nhiều hơn, có lẽ thời khắc ấy sắp đến rồi. Ai là người cuối cùng của chuyến phà lịch sử, khép lại một thời vàng son sứ mệnh của mình. Và những buớc chân đầu tiên nào đây sẽ đi qua cây cầu mới. Có thể bắt đầu ghi thêm một chi tiết mới vào sổ tay: Từ phố Bạch Đằng qua phố Sơn Trà chỉ bằng 1/20 trước đây tính theo đường bộ, còn về con đường hội nhập và phát triển cho cả một vùng dân cư rộng lớn của thành phố thân yêu có lẽ phải ghi vào mặt nước sông Hàn.

Tháng 3 /2000

NHỮNG CÁNH HỒNG GIỮA THỜI GIAN

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 26, 2007

                                        

 Nguyễn Ngọc Hạnh  

    

 qcn11-99.jpg    

                                                                                                           

Những người đàn bà                                                                                                                  
Dù có muôn vàn khuôn mặt
Vẫn chung nhau một sự cả tin
Suốt đời khao khát chở che….

( Chân dung- Võ Kim Ngân)

Những câu thơ ấy là của một người nhưng lại để nói chung về nhiều người , về tính chất đẹp đẽ nhân hậu , cộng một chút nương tựa dịu dàng của người phụ nữ mà không ít nhà thơ đã viết về họ. Còn tôi thì đi tìm giữa thời gian về những cánh hồng ngủ yên trong thơ của hai người đàn bà quen biết để hiểu thêm về một nửa còn lại mà thôi .
Họ cứ thấp thóang mơ hồ mà ấn tượng sâu đậm, tĩnh lặng mà tung vỡ. Nếu Võ Kim Ngân với những dằn vặt thô ráp, góc cạnh khi nghĩ về tình yêu : Hạnh phúc – mỏng như pha lê – khi tan vỡ, thì Phan Hòang Phương đằm thắm, dung dị: Em nắm chặt hạnh phúc trong tay rồi bật khóc . Cả một đám cỏ may xấu hổ gục mình…Nói gì rồi họ cũng không dấu được những ẩn khuất sâu kín trong tâm hồn, những lo toan đời thường của người đàn bà trong một mái ấm:
Đôi bàn tay vần vã với gạo cơm
Cả giấc ngủ cũng không yên
tiếng ồn ào chợ búa

( Tâm sự- Võ Kim Ngân)
Còn Phan Hòang Phương thì : Mỗi ngày nhóm bếp lửa lên.Lại thấy bóng mình trên vách. Những người đàn bà đôi khi cam chịu với số phận. Võ Kim Ngân tỏ bày điều ấy như một sự trải nghiệm ở đời:
Nửa đời vui và nửa đời buồn thảm
Không có gì rõ rệt hơn như thế
Bông hoa nở và tàn trong khỏanh khắc.

( Hoa quỳnh)
Với những người đàn bà làm thơ thì nỗi buồn ấy vừa lắng sâu, vừa lung linh quyến rũ. Phan Hòang Phương tự nguyện đi cùng nỗi buồn và đặt cược nó với mùa xuân: Có một gương mặt dấu mình sau khung cửa . Đặt cược nỗi nhớ vào xuân. Và Phương chợt nhận ra cái mong manh dễ vỡ của cả một đời người:
Ngày xuân thế hóa ra trọn vẹn
Ngang trời sấp ngửa một làn mây

( Đỏan khúc ngày xuân)
Nếu trong tình yêu, Võ Kim Ngân không thể bứt ra , không thể khác đi như em đã sống , bởi : Có quá nhiều điều ràng buộc, để rồi:
….Như cánh diều không dây
Gục đầu xuống đất
Cơn gió bay qua rưng rưng cánh khóc

( Ràng buộc)
Thì ở Phan Hòang Phương nỗi đau về tình mẹ con lại làm cho người đọc tin hơn vào sự sâu nặng thiêng liêng: Ước gì con nhìn thấy những mũi tên. Để vết thương con thành sẹo lúc này .( Lời của mẹ) . Nỗi buồn trong thơ của người đàn bà thường dễ lay động, nhưng độ sâu lắng thì không phải ít, nhất là trong thơ tình. Những mất mát, tiếc nuối một thời đã qua, những sớm nở tối tàn trong khỏanh khắc đối với họ là ray rứt muôn thuở. Phan Hòang phương viểt:
Bao tuổi đời đã qua
Để lại thời con gái
Thời như là muôn thuở
Thời như là phút giây

( Tỏ bày)
“ Thời như là phút giây” nên Võ Kim Ngân mới hốt hỏang: Xa vời rồi anh ơi. Những giấc mơ biển gió một thời. Chính vì nó ngắn ngủi như thế, nó vô thường đến thế mà Ngân tất tả ngược xuôi để sống cho ra sống, để kiếm tìm cho ra chân dung của chính mình:
Chẳng còn đâu cho những giấc mơ
Sự hoang phí của thời xa vắng
Em tất tả ngược xuôi trong vô vàn khuôn mặt
Anh kiếm tìm thật khó bóng hình em.

( Tâm sự)
Một khi họ đã hiểu như vậy, thì sự sẻ chia những bất hạnh đối với những người phụ nữ khác thêm đầy lòng nhân hậu.
Không biết Giữa thời gian , ai sẽ nhặt lên những cánh hồng, ai còn nhớ những bài thơ của Ngân và Phương , hai người đàn bà làm thơ đi viết báo. Những còn, mất ở đời đâu phải dễ. Mượn ý thơ của Phương để nói vậy: Có thể là muôn thuở, có thể là phút giây.

QUẢNG NAM XƯA VÀ NAY, một tập sách đáng ghi nhận

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 26, 2007

qnnay.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh

Lịch sử đâu có thể vỏn vẹn trong 300 trang sách, nhưng sự tái hiện một cách hệ thống của hơn 500 bức ảnh và gần 100 trang viết của các nhà nghiên cứu sử học, nhà văn…đã khiến những ai cầm tập sách trên tay đều bồi hồi trước trang sử vàng son với niềm tự hào của người đất Quảng. Quảng Nam xưa và nay là cuốn sách mang đầy ý nghĩa không chỉ với người dân địa phương mà còn là món quà chào mừng ngày giải phóng quê hương, đất Quảng.
Tập sách giới thiệu với người đọc về vị thế thiên nhiên Quảng Nam, vùng đất đã góp phần quan trọng làm nên cái thế “địa linh” từ đó sản sinh biết bao nhân kiệt. Phải chăng từ cá tính cứng cỏi, kiên cường đó…góp phần tạo nên sự khẳng khái, bất khuất của con người Quảng Nam, tính cách Quảng Nam xưa nay. Những Hoàng Diệu thủ tiết ở Hà Nội, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân, Thái Phiên bị chém ở Huế, Trần Quý Cáp bị chém ở Nha Trang, Phan Thành Tài và các đồng chí bị chém ở Quảng Nam, Phan Châu Trinh, lãnh tụ phong trào Duy Tân mất ở Sài Gòn…, và gần hơn trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, Quảng Nam có khoảng 6 vạn liệt sỹ, gần 3 vạn thương binh, 5.479 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chiếm 1/6 so với cả nước…, tất cả những con số ấy được khơi dậy sống động từ hình ảnh trong Quảng Nam xưa và nay.
Không chỉ vậy, tập sách này còn cung cấp cho người đọc các giá trị văn hóa của con người và vùng đất Quang Nam. Những Hội An, Mỹ Sơn…, với bề dày truyền thống phong phú mà ông cha tạo dựng từ bao đời, những tấm gương của bao anh tài lớp trước muôn đơì sáng soi cho con cháu mai sau. Sự giàu có về văn hóa có lẽ là một trong những nội dung lắng sâu trong tập sách này.Không hẳn đó là đất học với những vị đỗ đạt khoa bảng của bao thế hệ mà còn ở cách sống đặc trưng nét văn hóa Quảng Nam , ở nền nếp của một vùng đất mà không ít người trong và ngoài nước gọi là vùng văn hóa đầy bản sắc.
Tập sách còn giới thiệu khái quát về sản vật của Quảng Nam từ xưa đến nay. Những làng nghề và sản phẩm nổi tiếng : khoai Trà Đỏa, đường Diên Phước, dâu tằm Đại Lộc, lụa Duy Xuyên, chiếu Bàn Thạch, mộc Kim Bồng, gạch ngói làng gốm Thanh hà, yến sào Cù Lao Chàm, quế Trà My…Tất cả những giá trị ấy luôn gắn liền với cái tên Quảng Nam mà mỗi người dân xứ Quảng dù ở bất cứ chân trời góc biển nào cũng khó lòng quên được.

Tháng ba về, Hoàng Tư Thiện lại ra đi

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 26, 2007

 Nguyễn Ngọc Hạnh

Tôi sinh ra và lớn lên ở đây
Ba mươi năm sóng dạt dào cửa bể
Từ chiếc nôi mẹ ru từ tấm bé
Đến bầu trời thành phố tháng Ba

( Thành phố tháng Ba)

Cách đây gần ba mươi năm, Hoàng Tư Thiện đã viết về quê hương của mình như thế. Từ chiếc nôi mẹ ru cùng gió biển Thanh Khê đễn bầu trời tự do của thành phố bên sông Hàn trong những ngày tháng Ba lịch sử, sau bao nhiêu năm đợi chờ, ngày Đà Nẵng giải phóng , đã mang lại cho thơ anh những cảm xúc cháy bỏng : Dẫu những ngày tháng Ba đời tôi rồi qua hết. Hãy còn đây mặt trời trên biển. Và lòng tôi trên bán đảo bình minh… Và bây giờ, tháng Ba lại về mà Hoàng Tư THiện đã ra đi. Tháng Ba cuối cùng đời anh qua rồi. Nhưng tháng Ba trong thơ anh thì vẫn còn mãi mãi.

Anh em văn nghệ Đà Nẵng vừa tưởng nhớ một năm ngày ngày mất nhà thơ Trần Khắc Tám, rồi sững sờ vĩnh biệt Nguyễn Minh Khôi. Bây giờ lại mất thêm một người bạn thơ nữa, nhà thơ Hoàng Tư THiện. Có lẽ anh là một nhà thơ cô độc, sống ẩn khuất, khép kín trong thế giới của riêng mình. Gần 10 năm trở lại đây, Hoàng Tư Thiện hay ngồi một mình trước cửa, nhìn xa xăm như là không nhìn vào đâu cả. Mỗi chiều, với vài ly rượu trắng đơn độc, sẻ chia với mình về những bất hạnh của một người đàn ông đi tìm chân dung của chính mình trong cuộc đời này. Đã hơn 50 năm mà vẫn xa xăm , mờ mịt. Hạnh phúc chạy trốn anh, mà có lẽ anh cũng chẳng mơ màng một thứ hạnh phúc gi ngoài thơ:

Bao lần soi mặt vào gương
Ngỡ như thoắt hiện lại dường như xa
Mảnh gương trong vắt kia mà
Sao tôi tìm mãi không ra bóng mình

( Đi tìm)

“ Cái bóng “ ấy là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong thơ Hoàng Tư Thiện. Tôi ngồi với bóng tôi mà. Tôi và chiếc bóng nữa là có đôi. Có lần, anh nới với tôi , tìm không thấy nười…, nên phải tri âm với bóng, vậy thôi. Soi vào khắp cõi người ta. Biết bao giờ mới nhận ra chính mình. Và mãi mãi, Hoàng Tư Thiện chỉ một bóng với những buồn vui trong đời , một mình lầm lũi, trôi dạt với thơ:
Cái bóng trong tôi / Cái bóng ngoài đời / Cái hư / Cái thực / Cái mất/ Cái còn / Cái có / Cái không / Chập chờn / Cái bóng… Dường như phảng phất một chút triết lý của nhà Phật, cộng với sự chiêm nghiệm lẽ đời rất thi sĩ của anh, nên khổ cuối bài thơ “ Cái bóng” đã tạo ra cho người đọc một cảm xúc sâu lắng, gợi lên bao điều để chúng ta suy nghĩ về cuộc đời này : Tắt đèn / Mất bóng / Tôi nhìn / Thấy tôi. Bây giờ, anh đã mất bóng rồi. Hoàng Tư Thiện đã thấy rõ lẽ đời và biết mình đã phải tồn tại với thế gian này để làm gi?
Tôi quen biết Hoàng Tư Thiện đã lâu, từ ngày anh có mặt trên tờ báo Đối diện, một tạp chí phát hành bí mật ở miền Nam lúc bấy giờ. Đây là nơi qui tụ những trí thức, văn nghệ sĩ yêu nước, chống chính quyền Sài Gòn. Hoàng Tư Thiện có không ít những bài thơ đề lại dấu ấn cho người đọc lúc bấy giờ. “Đất nước” là một trong những bài thơ như thế của anh:

Cây giữ đất và đê điều giữ nước
Mến thương con , hoa quả giữ mùa
Cơm áo sông Hồng mở đường Nam tiến
Nghĩa phù sa, máu đỏ như thơ….

Là Việt Nam bốn nghìn năm đó
Hịch truyền ghi sông núi xa gần
Cở trỏ Đông Đô hồi trống giục
Thế nhân dân, trúc chẻ ngói tan…
Đất nước , 1970

Có một Hoàng Tư Thiện ngày ấy với đất nước. Anh đi tìm bóng mình, hay đi “tìm hình của nước”? Thơ là hình thức tối cao của tự do. Và thơ anh một thời đã góp vào tiếng nói tự do ấy của dân tộc, đi tìm Tổ quốc mình: “ Đường Bắc Nam gần thêm bước nữa, rộng vô cùng tình nghĩa nhân dân”. Nhiều người tôi gặp trong phút tiễn đưa anh , đã đọc lại những câu thơ cách đây trên 30 năm của Hoàng Tư Thiện, đầy niềm kính trọng và không che dấu được những giọt nước mắt: Bát nước qua đò con chưa kịp uống / Mẹ đã rót thêm ánh mắt dịu hiền. ( Rộng vô cùng tình nghĩa nhân dân). Hay : Đường lịch sử về trong ánh sáng / Những mùa thu nên vóc nên hài / Buổi rạng đông của thời cách mạng/ Cỏ hoa hèn cũng ngát hương mai… ( Đất nước).

Thơ và cuộc đời Hoàng Tư Thiện dường như còn ấm ức điều gì. Anh sống và viết như một lẽ thường tình, bài thơ viết xong như một số phận, cứ tự bươn chải mà sống, không mưu cầu gì ngoài giải tỏa ấm ức tâm hồn mình. Hoàng Tư Thiện hồn nhiên khóc cười, anh vừa nuối tiếc lại vừa đón nhận mọi cay nghiệt của đời sống:

Nào cay đắng ngọt bùi tôi đã cạn
Men vị đời còn ấm trên tay
Tôi đã khóc tưở ban đầu thương mến
Và sẽ cười thanh thản sớm mai sau

Mai mốt khi nào tôi vắng bóng…
Mai mốt song trôi về biển khác
Nhớ ngày tôi đi giữa cuộc đời

( Với cuộc đời)

Cả cái chết, Hoàng Tư Thiện cũng đón nhận một cách thanh thản. Có phải vì những cay đắng ngọt bùi đã cạn mà anh không vướng bận, hay vì cuộc đời này dửng dưng, mà thơ anh đầy vẻ cam chịu với số phận: Cát với tôi là một / Cát với tôi là hai / Giũ sạch rồi long nhẹ như không. Bài thơ cuối cùng chép tay gửi bạn bè, dường như Hoàng Tư Thiện đã dự cảm được sự ra đi của mình:

Hãy để hồn an nghỉ một đêm nay
Đầu sẽ gối lên tay này cô độc
Hãy để hồn sống nốt đêm nay
Đêm sắp tắt hay mắt ai chừng đã khép?

( Chiêu hồn)

Thế mà: Trong đêm tối trái tim mình vẫn đập. Thể phách còn đây sao hồn chẳng nói năng? Trái tim ấy không chịu dừng với bao khát vọng của tình yêu. Hồn anh vẫn còn quanh quẩn đâu đây, như một phép màu, anh trở lại: Có kẻ nào trong ta cựa mình thức dậy. Thở quanh đây từng đốm lửa lưu huỳnh. Không biết nữa cửa nào mở vậy. Có ai vừa vén hộ ánh bình minh. ( Chiêu hồn) . Một Hoàng Tư Thiện khác vừa nhập xác hay chính là anh yêu tha thiết cuộc đời này, mà không muốn xa rời ngọn gió Thanh Khê, giữa những ngày tháng Ba, nơi anh hằng yêu mến.

Tháng Ba, 2004

Người đàn bà buôn gánh

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 26, 2007

buonganh.jpg 

Nguyễn Ngọc Hạnh

Bỗng dưng tôi nhớ người đàn bà buôn gánh giữa thành phố Đà Nẵng trước năm bảy lăm. Chị có dáng người nhỏ nhắn, thường mặc bộ bà ba đen bạc màu, đầu đội nón lá, đi chân trần rảo khắp phố phường từ ngã ba Huế đến dọc bờ sông Hàn. Chị mua bán gì thì tôi không rõ, chỉ biết hết ngày này đến ngày khác chị cứ âm thầm bước trên những con đường quen thuộc ấy. Mệt thì nghỉ, khỏe lại đi tiếp. Chị hay dừng lại trước những cơ quan, các điểm đóng quân và Ty Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn với chiếc nón lá cong vành phơ phất trên tay.
Một cậu học trò nhà quê ra tỉnh như tôi rất dễ đồng cảm với hình ảnh những người đàn bà buôn gánh bán bưng như thế. Không chỉ cùng cảnh ngộ nghèo khó, cơ cực , không chốn nương thân mà bóng dáng người đàn bà buôn gánh bên đường còn khơi dậy hình ảnh của mẹ tôi ở một vùng quê thượng nguồn bên dòng sông Vu Gia. Mẹ tôi buôn gánh từ hồi còn là thiếu nữ đến ngày tôi lớn khôn. Mỗi sáng sớm, mẹ gồng gánh qua sông với bao thứ hàng hóa tiêu dùng bình dân, những chè tươi, ớt tỏi, nếp gạo, bún khô, đường phèn, đường phổi…Tất cả được bày trong các mủng thúng chất chồng giữa đôi gióng mây. Mẹ kể: Hồi chiến tranh, có lần bom đạn đầy trời , trên chiếc đò nhỏ chở những người buôn gánh lên chợ đã lật chìm. Hàng hóa trôi nổi đầy sông, còn phường buôn gánh thì kẻ còn, người mất. Tôi biết ơn đôi gánh ấy của mẹ tôi.
Sau ngày giải phóng, mẹ đã già yếu nên không còn buôn gánh nữa. Và người đàn bà mà tôi thường gửi chiếc cặp của mình vào một đầu thúng rồi bước theo sau trên đường đi học về cũng không còn. Chị về quê sinh sống chăng? Hơn một tháng sau ngày ba mươi tháng tư, tôi lại gặp chị trong một buổi mít- tinh lớn chào mừng đất nước thống nhất tại sân Chi Lăng với bộ quân phục và chiếc mũ tai bèo trên khán đài. Thế là tôi hiểu ra chị ấy là cơ sở cách mạng, họat động nội thành mà lâu nay tôi không biết. Người đàn bà buôn gánh của tôi không chỉ gánh gánh đi buôn mà gánh vác cơ đồ cùng dân tộc. Bây giờ chị ở đâu? Cứ mỗi năm đến ngày này, tôi lại nhớ về chị.
Thành phố Đà Nẵng bây giờ so với ngày xưa khác xa lắm. Bao nhiêu đổi thay từ cảnh vật đến con người , bao công trình mọc lên cao vút, bao nhà hàng, khách sạn chen nhau, đường sá nhiều hơn, rộng mở hơn xưa. Cuộc sống đường hòang hơn với bao niềm vui, nhất là sau ngày thành phố chính thức trực thuộc Trung ương. Với nhiều dự án xây dựng được bàn luận và thực thi mang lại cho người dân niềm hy vọng ở ngày mai. Điều này có thể mẹ tôi không biết vì tuổi mẹ đã xế chiều lại ở tận miền quê xa thẳm. Còn chị, người đàn bà buôn gánh năm xưa chắc đang còn sinh sống và làm việc giữa thành phố này, có khi nào chị ra phố tìm lại bóng dáng của mình để nhớ về một thời đẹp đẽ đã qua.
Không hiểu vì sao tôi lại nảy sinh viết một cái gì đó về chị, có thể là một bài báo ngắn, biết đâu chị đọc được và sẽ tìm tôi. Mà tôi đâu biết tên chi, thôi chỉ ghi lại cái nghề buôn gánh, vậy thôi.
Thế là vác cái máy ảnh cà tàng đi thực tế trên các đường phố để tìm hiểu về nhân vật của mình.
Đi bộ giữa thành phố mới thấy được nhiều điều, trước tiên là lề đường không còn nữa. Đúng là thời của kinh tế thị trường, mạnh ai nấy bày ra, để phục vụ người tiêu dùng tiện lợi. Thôi, chuyên nhỏ, lại gặp rắc rối cũng nên. Nhân vật đây rồi! Điều mà tôi ít nghĩ đến lâu nay là người buôn gánh kiếm sống ở thành phố bây giờ còn nhiều quá, chỉ thua lực lượng tiếp thị, các em đánh giày và bán vé số mà thôi. Một bộ phận nữa là người ăn xin trên đường và trong quán nhậu. Thôi chuyện thường ngày, tôi cứ đi như thế dưới nắng trưa và ngồi trò chuyện với các chị bán hàng rong hết nơi này sang nơi khác. Họ không như người chị buôn gánh của tôi ngày xưa, không làm nhiệm vụ chính trị trong lòng địch, mà họ chỉ lặng lẽ bước đi với đôi gánh trên vai để nuôi sống gia đình. Một ít khoai tây, một ít hành ngò, vài trái dưa, quả ổi, cứ thế họ chầm chậm trên đường với tiếng chào mời nhỏ nhẹ , ngồi xuống rồi đứng lên trước cửa mỗi hiên nhà.
Hầu hết các chị và các mẹ đều nghèo khó, thiếu vốn. Họ đến thành phố này từ nhiều nơi khác nhau, phần lớn là ở vùng ven Đà Nẵng, có người tận Thăng Bình, Quế Sơn ra trú ngụ ở nhà bà con để đi buôn gánh và cả những người đang sống giữa thành phố. Tôi ngồi xuống bên đường trò chuyện với một người đàn bà tuổi chừng dưới bốn mươi. Cái đòn gánh gác trên hai đầu thúng, chiếc nón trên tay chị phơ phất vẫn chưa khô những giọt mồ hôi trên trán, chị nói:
– Chú là nhà báo hả?
Có lẽ chị thấy tôi mang máy ảnh, nên đóan thế, tôi liền hỏi:
– Trước khi đi buôn gánh, chị làm gì?
– Làm cán bộ phụ nữ ở phường, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn tôi xin nghỉ.
-Vì sao vậy?
-Chuyện dài lắm, nhưng tôi kể vắn tắt chú nghe: Trước giải phóng, tôi cũng buôn gánh như thế này nhưng không như bây giờ, khổ quá. Vì hồi đó có tổ chức lo hết, nói là buôn mà có bán gì đâu. Còn buôn gánh ngày nay là kiếm sống nuôi chồng con, vất vả lắm. À, tôi lại quên, tôi xin nghỉ là vì không làm việc được. Tôi có hiểu gì về công tác phụ nữ đâu. Chẳng qua, sau giải phóng các anh tổ chức muốn cho tôi có việc làm nên bố trí như vậy. Vài ba tháng gì đó, là tôi về quê sinh sống. Lớn tuổi, không làm nông được nên cứ sáng xuống chợ Mới Ba Xã mua ít rau quả, khoai sắn mang ra thành phố bán kiếm năm ba nghìn mua gạo, hơn nữa là để nhớ lại cái thời buôn gánh năm xưa.
Trời ơi, không lẽ là chị đây sao. Tôi nghĩ thầm như thế.
Chịbỗng dưng vui lên và thân mật với tôi:
-Chú biết không, đúng ra ngày này tôi không đi bán đi buôn gì đâu, nhưng năm nào cũng vậy, tôi đều có mặt ở thành phố Đà Nẵng để nhớ lại cái thời buôn gánh đầy ý nghĩa của mình.
Nói xong, cả chị lẫn tôi đều buồn. Làm sao mà hiểu được nỗi buồn ấy. Có ai nhớ lại những kỷ niệm đẹp mà không nuối tiếc! Tôi bây giờ cũng không còn trẻ nữa, huống gì chị. Ngày ba mươi tháng tư có bao nhiêu người như tôi và chị trưa nay trên đường phố bên sông Hàn. Bây giờ, tôi không còn ý định viết bài báo để đi tìm chị nữa, không phải vì tôi đã gặp người đàn bà buôn gánh thời xưa mà tôi gặp câu trả lời về nhân cách của người đời. Chị đã không biết buôn trong cái gánh của mình, chị từ chối và chọn lựa vì một điều cao cả, trong khi bao người không một phút giây để nhận ra mình. Tại sao họ không đủ dũng khí và lương thiện như chị , tại sao họ không dám từ chức hoặc thôi việc khi họ không còn đủ năng lực để đảm đương công việc mà lẽ ra phải nhường lại cho người khác? Cả trong nghề làm báo của tôi cũng không ít người không nhận ra mình hoặc không dám nhận điều phũ phàng ấy về mình.
Tôi định nhắc lại một vài kỷ niệm giữa tôi với chị mong gợi lên trong ký ức của người đàn bà buôn gánh ngày xưa, nhưng cũng chẳng để làm gì. Bây giờ chị ở đâu? Chị ấy tên gì? Có lẽ không còn cần thiết cho việc viết một bài báo nhỏ của tôi, mà chị đã trở thành nhân vật của đời thường trong cuộc sống vô thường. Tôi cứ đi tìm chị, người đàn bà buôn gánh.

30-04-1997.

Nguyễn Ngọc Hạnh “chụp” các văn nghệ sĩ

Posted in Nguyễn Ngọc Hạnh "chụp" các văn nghệ sĩ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 24, 2007

 

18062007.jpg

Võ Kim Ngân đang hát thơ mình

image5.jpg

Nhà thơ Lưu Trùng Dương

image4.jpg

Nhà thơ Ngô Minh

image2.jpg

Nhà thơ Hoàng Thanh Thuỵ

anh-web.jpg

Nhà thơ Phụng Lam

picture-090.jpg

Nhà thơ Khuê Việt Trường

picture-091.jpg

Nhà thơ Đỗ Thượng Thế

le-tram.JPG

Nhà văn Lê Trâm

p1010595.JPG

Nhà văn Đoàn Xoa

picture-074.jpg

Nhà báo Nguyễn Hữu Đổng

p1010299.JPG

Nhà thơ Tạ Văn Sĩ

nhc.JPG

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung

p1010107.JPG

Nhà thơ Ngân Vịnh

p1010092.JPG

Nhà văn Lê Khôi

Nhà thơ Nguyễn Chiến

thai-ba-loi.JPG

Nhà văn Thái Bá Lợi

p1010088.JPG

Nhà văn Hoàng Minh Nhân

p1010110.JPG

Nhà văn Trần Kỳ Trung

p1010125.JPG

Nhà thơ Bùi Xuân

271020060163.jpg

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật nghe thơ mình trên sóng radio Maxcova, dưới mưa !

bui-cong-minh.jpg

Nhà thơ Bùi Công Minh

Nhà văn Trần Trung Sáng

Nhà văn Trần Trung Sáng

Bao giờ có bài hát hay về Đà Nẵng?

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 24, 2007

p1010643.JPG

Nguyễn Ngọc Hạnh

Nói như nhạc sĩ Hòang Hiệp, người Đà Nẵng rất mến khách và ít có nơi nào trong nước làm được việc này. Còn nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn thì cho rằng lãnh đạo thành phố đã tạo rất nhiều thuận lợi cho các nhạc sĩ có dịp tiếp xúc với thực tế phong phú của một Đà Nẵng tươi mới, trẻ trung.
Nhạc sĩ Phan Hùynh Điểu , người con của quê hương lộ vẻ tin tưởng và hy vọng sẽ có những bài hát hay về Đà Nẵng của nhạc sĩ trong chuyến đi này. Khi gặp tôi ở khách sạn Faifo, anh Hồ Hải Học- Giám đốc sở Văn hóa thông tin Đà Nẵng cho biết, chỉ mới mấy ngày mà nhạc sĩ Trần Tiến sắp hòan thành hai ca khúc rồi. Trước đó, nhạc sĩ Phó Đức Phương, Trọng Đài, Tân Huyền… thuộc đòan Hà Nội cũng nói với tôi về thành phố này bằng những tình cảm như thế. Phần lớn các anh đều hy vọng sẽ có một cái gì đó để kỷ niệm với Đà Nẵng . Hay, dở thì chưa thể nói trước , nhạc sĩ Hòang Hiệp nói vậy, chỉ tiếc là thời gian ở đây ngắn quá.
Tác giả bài hát : “Chị tôi”, anh Trọng Đài cẩn thận hơn: Cũng mong sẽ làm được điều gì đó về miền đất nắng, gió này, còn việc nôn nóng có ca khúc hay về Đà Nẵng, theo tôi không nên vội, phải có thời gian. Thường những bài hát hay bao giờ cũng bắt đầu từ những cảm xúc mãnh liệt, mà thứ ấy hiếm lắm. Không hẳn tổ chức cuộc thi là có ngay, không hẳn nhạc sĩ ở Hà Nội hay Sài Gòn mới làm được điều đó, mà trên hết, trước hết ngòai tài năng cần có độ sâu lắng và cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ về vùng đất mình yêu mến. Nhạc sĩ Phó Đức Phương cho rằng, không riêng gì ca khúc cho Đà Nẵng, trong sáng tác có ai bắt anh đến chỗ nào đâu. Mỗi người tự phải dằn vặt, trăn trở đi tìm cái tầm vóc vô hình bằng khả năng sáng tạo của mình, bằng trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc sống.
Nhắc lại cuộc thi ca khúc về Đà Nẵng, nhạc sĩ Phan Hùynh Điểu có vẻ lo lắng khi nhận xét về họat động âm nhạc ở thành phố này: Công tác quản lý yếu, kém hiệu quả, đáng lo ngại. Tôi có nghe hơn 10 ca khúc của anh em ở Đà Nẵng. Một số ca khúc về đề tài khác của anh em viết rất thóang, riêng ca khúc về Đà Nẵng tôi chưa vừa lòng cho lắm, các nhạc sĩ trẻ còn lẩn quẩn, sa vào kể lể, đưa các địa danh vào bài hát một cách gượng ép. Bây giờ không thể viết như Quảng Nam yêu thương của tôi ngày xưa. Phải chắt lọc làm sao cho vượt ra ngoài phạm vi địa phương ca thì mới đáp ứng nhu cầu của người nghe, mới bắt kịp xu thế phát triển của đời sông âm nhạc hiện nay. Theo tôi, thành phố của chúng ta phong phú, là đề tài hấp dẫn cho nhiều văn nghệ sĩ trong nước đến đây sáng tác. Vấn đề, ai là người để lại những tác phẩm hay, có giá trị về vùng đất này. Tôi mong các nhạc sĩ Đà Nẵng làm được điều đó.
Người viết bài này cũng mong như vậy. Có lẽ phải chờ thôi. Biết đâu bài hát hay nhất về Đà Nẵng vẫn còn xa lắm. Mà cũng đúng thôi, ngòai thủ đô Hà Nội, mấy nơi có bài hát nổi tiếng về địa phương mình!?

Chị tôi còn bên sông

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 24, 2007

chitoi.jpg                                                                                                                                     Nguyễn Ngọc Hạnh

Chiến tranh đi qua nhưng nỗi đau thì còn lại. Không ít những tác phẩm văn học nghệ thuật đã và sẽ mãi mãi viết về những mất mát đau thương ấy. Nỗi buồn chiến tranh luôn day dứt , ám ảnh nhiều thế hệ cầm bút. Hình tượng người lính trong chiến tranh được khắc họa phong phú trong ca khúc của nhiều nhạc sĩ. “Lời thề mùa đông” của Thái Nghĩa ( lời phỏng thơ Bùi Hòang Tám), là sáng tác mới về đề tài này.
Nhạc sĩ Thái Nghĩa không xa lạ gì với công chúng yêu nhạc ở Quảng Nam, Đà Nẵng. Ngòai những ca khúc viết cho thiếu nhi như Điệu lý quê em, Mẹ cấy giữa mùa vui, Chim thơ rao hót,… thì những Tình khúc Thu Bồn, Thao thức với rừng, Cành Hoa, Sông quê, Cung trầm cung thương… với âm hưởng của các làn điệu dân ca ngọt ngào , đã để lại những ấn tượng đẹp cho người nghe. Có người cho rằng chất hồn hậu, đằm thắm, đậm đà trong ca khúc của Thái Nghĩa phần nào hiển hiện cá tính dân dã, chân chất của người nghệ sĩ được sinh ra ở một làng quê bên dòng sông Thu Bồn. Có phải vì thế mà nỗi đau khôn nguôi trong chiến tranh ở vùng đất La Thọ ( Điện Hòa) quê anh cứ bật lên da diết trong mỗi thanh âm.
Sau “Cảm tác vọng phu” ( 1990) đến “ Lời thề mùa đông” ( 1998) là sự nối tiếp về những số phận nghiệt ngã trong ca khúc của Thái Nghĩa. Vọng phu ngày xưa có khác gì nỗi mong chờ hôm qua và còn mãi mãi những bất hạnh lẻ loi dồn hết về phía người đàn bà trông chồng:” Bây giờ là mấy mùa đông – Anh tôi ra trận và không trở về – Bây giờ là mấy chiều quê – Chị tôi đã có lời thề mùa đông” .
Dường như có điều gi se thắt trong tâm hồn người nghệ sĩ về một chuyện tình buồn. Bây giờ là hiện tại nhưng lại để nói cái đã qua, là để nói cái bao giờ về sự ra đi không trở về của người lính, người chồng của “chị tôi”. Người nghệ sĩ đã trở thành nhân chứng cho mối tình ấy. Đồng cảm, hồn nhiên thơ dại như một cậu bé trước nỗi đau và tình yêu cao cả của người thân mình, đó là độ sâu lắng suy tư, là cảm xúc ngập tràn của người nghệ sĩ trước bao nhiêu mất mát ở đời.
Mùa đông ơi mùa đông
Trời nghiêng vai đầy mưa
Sầu đông tan mùa hoa
Mà người đi đi mãi

Một khổ thơ đẹp mà buồn. Cả đọan đều thanh bằng. Khi đọc lên, làm cho người ta liên tưởng đến những lời thì thầm ẩn ức nhỏ nhẹ của người đàn bà hẩm hiu trong đêm đông với đất trời, là tiếng thở than trong đêm mưa não lòng của “chị tôi” về số phận mình. “ Sầu đông tan mùa hoa, mà người đi đi mãi”. Chỉ có mỗi chữ “mãi” là thanh trắc thì làm sao hát lên cho được.Thế mà khi hát lên nghe vẫn nao lòng, tưởng như có thể làm cho con người gần nhau hơn, tử tế hơn để sẻ chia với nỗi đau của số phận.
Một sự tĩnh lặng trong gia điệu nhưng lại lay động dữ dội tâm hồn người nghe. Nếu ở đọan đầu Thái Nghĩa sử dụng chất liệu âm nhạc mang tính kể lể êm dịu, sâu lắng với âm hình tiết tấu bình ổn thì đọan sau được phát triển trên nền kỹ thuật cung bậc tạo ra cao trào, diễn tả được nỗi đau ẩn sâu trong lòng người thiếu phụ, tạo cảm xúc mãnh liệt cho người nghe: “Mùa đông ơi mùa đông, chị tôi còn bên sông”. Chị còn đứng chờ mong nơi bến cũ. Chị vẫn ngồi một mình với khúc vui buồn đêm đông dù người lính ấy không bao giờ về nữa.
Trời đừng mưa đừng mưa
Chị tôi đang lạnh lắm

Tác giả cứ để tâm hồn mình ứa ra những cảm xúc trong sáng hồn nhiên, nếu gò bó khiên cưỡng sẽ hóa thành giả tạo. Cứ như một đứa em thương chị lỡ đò. Mà chính điều ấy mới là tố chất của nghệ sĩ. Đâu phải lúc nào bài hát cũng phải vui, cũng có hậu, mà cần có đạo, có tâm. Đó vừa là thái độ sống, vừa là trách nhiệm công dân nghệ sĩ trước cuộc đời này: đừng ai làm cho nỗi đau của chị, số phận những người đàn bà như chị trong “Lời thề mùa đông” thêm đau, thêm bất hạnh. Có phải vì thế mà những dòng cuối của bài hát, điệp khúc ấy cứ lắng sâu, láng sâu : Mùa đông ơi mùa đông, Chị tôi còn bên sông. Trời đừng mư, đừng mư> Đừng lạnh thêm, lạnh thêm. Gieo sầu thêm nỗi chờ mongbạc đầu.

Bây giờ là mấy mùa đông, là bao nhiêu năm sau cuộc chiến tranh! Người lính ấy không bao giờ về nữa. Vẫn là Chị đấy thôi nhưng đâu còn trẻ như ngày xưa. Đừng ai gieo thêm khổ đau lên số phận hẩm hiu của những người đàn bà bất hạnh trong chiến tranh. Có lẽ Thái Nghĩa va Bùi Hoàng Tám đã gửi được một thông điệp bằng thơ và giai điệu buồn đầy tính nhân văn đến với công chúng yêu nhạc qua ca khúc này của hai anh .

NHẠC SĨ TRỌNG ĐÀI: Ca sĩ hát những bài hát mới tinh rất hiếm

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 23, 2007

Không đợi đến bài hát Chị tôi ( thơ Đòan Thị Tảo) trong phim truyền hình “Người Hà Nội” công chúng mới biết anh, mà nhạc sĩ Nguyễn Trọng Đài đã được người yêu nhạc biết đến từ năm 1994 khi anh đọat giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam với Concetor cho dàn nhạc giao hưởng.
Anh sinh năm 1958 tại Hà Nội, là con nhà nòi âm nhạc, cùng thời với Đặng Thái Sơn, cả hai cùng được đào tạo tại nhạc viên Tschaikovski ( Maxcova). Hiện nay anh là Giám đốc Nhà hát Thăng long, Hà Nội.
Tình cờ gặp nhạc sĩ Trọng Đài tại Đà Nẵng trong chuyến đi thực tế theo lời mời của UBND thành phố để giúp cho thành phố có được một bài “ Đà Nẵng ca” , chúng tôi đã có cuộc trò chuyện thân mật với anh.
•Xin anh giới thiệu vài nét về họat động âm nhạc của mình?

-Nhạc sĩ Trọng Đài:
Tôi viết nhạc hầu hết trên các thể lọai, từ ca khúc đến hòa tấu thính phòng, giao hưởng, kịch múa, đặc biệt viết nhạc cho điện ảnh và sân khấu là một lý thú. Tôi mê sân khấu và điện ảnh từ nhỏ, nên khi sáng tác cho lĩnh vực này tôi ít bị gượng ép mà ngược lại còn dễ đồng cảm với nội dung kịch bản. Có lẽ vì thế mà Chị tôiHà Nội đêm trở gió đã được công chúng yêu mến. Ngòai ra , cùng với đòan làm những chương trình như Hà Nội 40 mùa xuân hòanh tráng, bản thơ giao hưởng Ký ức 75, Dòng sông lính….cũng có sự giao lưu cọ sát với âm nhạc nước ngòai nhiều hơn nữa thì mới nhìn lại mình một cách đầy đủ hơn, tỉnh táo hơn. Các Topten Làn sóng xanh đều có ý nghĩa cần đa dạng.
•Đến Đà Nẵng lần này, anh có dự định viết cái gì về thành phố?

-Nhạc sĩ Trọng Đài:
Tôi đến Đà Nẵng nhiều lần, ấn tượng về một thành phố trẻ miền Trung dường như đã ghi nhớ vào tôi. Cũng mong sẽ làm được điều gì về miền đất nắng gió này. Còn việc nôn nóng có tác phẩm hay về Đà Nẵng, theo tôi là không nên , tuy nó rất cần thiết nhưng cái gì cũng phải có thời gian. Thường những bài hát hay, bao giờ cũng bắt đầu từ những cảm xúc mãnh liệt, hiếm lắm! Anh thấy đấy, đâu phải nơi nào trong nước cũng có bài hát hay về địa phương mình.
* “ Hà Nội đêm trở gió” được anh viết cho vở kịch cùng tên của Chu Lai, nằm trong topten bài hát hay về Hà Nội.Nhiều người cho rằng đến ca khúc này, tên tuổi anh mới thật sự lưu dấu trong lòng công chúng?

– Nhạc sĩ Trọng Đài:
Quả đúng như vậy, sau Chị tôiHà Nội đêm trở gió thì nhiều người biết đến Trọng Đài hơn, nhưng có lẽ phải chờ thêm một thời gian nưa mới biết được những ca khúc ấy còn tồn tại với người yêu nhạc? Tuổi của các bài hát ấy còn quá ít, làm sao nói trước, còn Topten là tạm gọi thế thôi. Thời gian bao giờ cũng công bằng !

* Xin cám ơn anh !

 trongdai.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh thực hiện

PHAN NGỌC MINH từ Ký ức phố xưa đến NHẬT KÝ MỸ SƠN

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 23, 2007

  

ngocminh.jpg  Nguyễn Ngọc Hạnh

Những mái ngói cong, tường rêu góc phố cùng những số phận hắt hiu từ tiếng rao đêm của những người bán hàng rong, của người hớt tóc dạo trong Ký ức phố xưa ( 1995) đã để lại những ấn tượng sâu đậm mà mỗi khi gặp Phan Ngọc Minh người ta nhớ đến Hội An. Từ những con đường nhỏ hẹp với màu rêu đầy hoa li ti đã mở ra con đuờng rộng rinh ngập tràn ánh sáng và sắc màu về một vùng ký ức xa xăm trong bước đường hội họa của anh.
Cũng từ đây, Phan Ngọc Minh thêm một lần những mất đi và sanh nở giữa không gian đầy huyền thọai Mỹ Sơn, một thế giới tâm linh của các vương triều Champa xưa. Phan Ngọc Minh không chỉ đi tìm mỗi vẻ đẹp ấy mà anh còn muốn chuyển tải những suy ngẫm của mình về cuộc sống, về một nền văn hóa một thời rực rỡ , bị tàn phá, hủy diệt. Hơn bốn mươi bức tranh sơn dầu và bút sắt trong bộ sưu tập về Champa được bày nhân kỷ niệm 100 năm nghiên cứu Mỹ Sơn là kết quả của 4 năm miệt mài với những chuyến đi dài ngày, có khi cả tháng trời ở thánh địa này của Phan Ngọc Minh. Anh đã lặn lội dọc dải đất miền Trung từ tháp Bàng An, Đồng Dương, Chiên Đàn, ( Quảng Nam) , tháp Ponaga ( Nha Trang) , Po Klong Garai, Po Rome (Ninh Thuận) cho đến những làng Chăm có nghề gốm truyền thống ( Bàu Trúc), dệt thổ cẩm ( Mỹ Nghiệp) và hòa nhập vào các lễ hội như Tết Katê, lễ hỏa táng của người Chăm…để tìm cảm xúc sáng tạo cho Nhật ký Mỹ Sơn.
Khác với Ký ức phố xưa, tranh sơn dầu về Champa của Phan Ngọc Minh mang đầy tính biểu tuợng và ngẫu hứng. Nếu những góc phố nhỏ, những mái ngói đẫm rêu, nét tính cách Hội An từ những con người bình thường như người bán quạt giấy, ông già mù dò từng dấu gậy đi bán chổi lông gà…. trong Ký ức phố xưa được Phan Ngọc Minh ghi lại trên giá vẽ bằng những cảm xúc sâu lắngcủa người nghệ sĩ với đời thường thì trong Nhật ký Mỹ Sơn, anh đã chọn một hướng khác để thể hiện cái thế giới siêu hình đầy bí ẩn của các thần linh. Khuynh hướng hội họa biểu hình không phải là mới nhưng được Phan Ngọc Minh thổi vào bên trong nhân vật, sự vật hơi thở, sự sống, mới nhìn tưởng như xô lệch trên những tông màu huyền ảo cổ xưa nhưng lại chặt chẽ, hài hòa và bay bổng.Đặc biệt, tranh bút sắc của anh như những bài thơ giàu cảm xúc dưới những đêm trăng bên chân tháp, một mình anh đối thọai với thần linh và tác phẩm của mình.
Cái thực và cái hư đan xen gây nên sự chuyển động trong một quần thể tĩnh lặng mà mỗi người xem tranh anh đều có cách suy nghĩ một cách khác nhau bằng thế giới tâm hồn của con người vào cõi siêu linh.
Cuộc triển lãm này là một niềm vui đặc biêt đối với họa sĩ Phan Ngọc Minh khi được bày một phòng tranh riêng ngòai trời ngay trên thánh địa Mỹ Sơn!
Gần đây, gặp Minh ở Mỹ Sơn, tôi thấy trong tập phác thảo của anh có dòng chữ lớn ghi bên ngoài: Tự họa với Shiva. Sẽ có tiếp một cuộc trò chuyện bằng nghệ thuật hội họa với thần Shiva của Phan Ngọc Minh?

Nhạc sĩ Trần Tiến ĐỘC HÀNH với TIẾNG CHIM QUÊ

Posted in Tác phẩm báo chí bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 23, 2007

                                                                                                                                      Nguyễn Ngọc Hạnh    tiengchimque.jpg

Có một đêm nghe nhạc sĩ Trần Tiến hát, đúng hơn là tôi nghe anh độc hành với tiếng chim quê bằng tâm hồn của người nhạc sĩ hát rong hiện đại. Ôm đàn gõ nhịp với đời, từ năm 17 tuổi đã có Cô gái Sầm nưa xinh đẹp, đến Vòng tay cầu hôn, rồi sau này Sao em nỡ vội lấy chồng…những ca khúc ngẫu hứng một thời của anh đã in vào tâm trí của nhiều người. Và hơn thế nữa…, nhưng bài viết này chỉ muốn dừng lại về một Trần Tiến với Độc huyền cầmTiếng chim quê. Đây là hai ca khúc mới nhất được tác giả hát lần đầu tiên với công chúng yêu nhạc.

Độc huyền cầm buồn lắm
Mấy ai người tri âm
Độc huyền cầm lẻ loi
Bay ngang cánh chim hồng

( Độc huyền cầm)

Vẫn những giai điệu, khúc thức đầy ngẫu hứng, vẫn là anh ấy thôi, nhưng người nghe đã nhận ra một Trần Tiến độc hành đi tìm tiếng chim quê nơi vườn cũ, một mình tìm lại những tháng năm đã mất, tìm lại đời mình:

Chiều trên phố nghe tiếng chim quê
Chàng Trương Chi buồn nhớ quê nhà

( Tiếng chim quê)

Trương chi vẫn còn lang thang nơi đất khách, chưa về ? Bỏ dòng sông xa rời Mỵ Nương, bạn bè cũ quê nhà mờ sương. Tôi mơ hồ nhận ra sự đơn độc của người nhạc sĩ “ hát rong” bao năm trên đời mà vẫn thiếu tri âm. Thường những lúc như vậy, ai cũng mong tìm về chốn cũ: Đời không đâu bằng chốn quê nhà. Tâm trạng của bài hát rất dễ tri âm với con người trong cơn lốc đỏ đen này, còn anh thì vẫn độc hành. Bao hơn thua, được mất ở đời mà chi, một khi con người cứ sắm vai trước nỗi cô đơn luôn ám ảnh, dằn vặt chính mình, Trần Tiến tri âm với “độc huyền cầm”.
Tôi là người ngọai đạo với âm nhạc, nên chẳng dám luận bàn gì về giai điệu khúc thức. Chỉ đồng cảm với lời ca mà thôi. Đây cũng là một trong những đòi hỏi cũng không mới lạ gì với công chúng yêu nhạc. Lời hát làm cho con người sống đẹp hơn, thức tỉnh và cao thượng hơn chứ không phải chỉ có những con chữ dễ dãi vô hồn chen vào giữa hai dòng nhạc. Mà ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn là một ví dụ. Làm sao mà ngồi yên, làm sao không chạnh lòng được khi nghe những lời hát:

Gió mây ngàn về đâu
Cũng thu về một bóng
Tráng sĩ ngồi lặng câm
Độc hành độc huyền cầm

( Độc huyền cầm)

Ai cũng đi tìm cho riêng mình một khỏang trời, một nơi nương tựa. Nhưng mấy người gặp được tri âm. Có phải vì nỗi cô đơn ấy mà một chiều tháng năm ở Đà Nẵng, Trần Tiến thảng thốt khi nghe tiếng chim cu, làm anh nhớ quê nhà:

Chàng đi giữa phố phường lạnh giá
Còn đâu nữa tiếng đàn ngày xưa…
Tìm hạnh phúc gia đình yên ấm
Ổ rơm khô khói lam sương mờ
( Tiếng chim quê)

Khi đau đớn, bơ vơ nhất người ta thường nhớ đến quê làng. Những rơm khô, khói lam sương mờ đôi khi lại giải thóat được nỗi đau ấy của người nghệ sĩ. Bởi chính đấy mới là nơi trở về sau những ngày lang thang giữa phố phường chật hẹp.Và mỗi lần như thế, người mẹ bao giờ cũng là nỗi nhớ day dứt:

Mẹ dặn con đừng hát khúc ca buồn
Rồi tiếng hát vận vào đời con
Con đâu có nghe…
Chàng Trương Chi ôm sáo tre nằm chết bên hè.

( Tiếng chim quê)

Tiếng hát vận vào đời con mới sinh ra cái bi kịch ấy, mẹ ơi!
Độc huyền cầm, cái đàn chỉ có một dây mà đã tạo ra bao nguồn vui se thắt bằng thứ âm thanh của riêng mình. Cũng như người nhạc sĩ ấy độc hành trên cõi đời thiếu tri âm, nhưng cứ lấp lánh, cứ cháy hết những gi trời đã ban cho mình. Cứ ca hát hết lòng với cuộc đời này rồi về chốn quê nhà ngồi nghe tiếng chim cu:

Tìm đâu nữa thiên đường mờ xa
Đời không đâu bằng chốn quê nhà .

Nguyễn Ngọc Hạnh, người ở phố, thơ về làng.

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 22, 2007

Nhà thơ Ngô Minh

 Lời giới thiệu của nhà thơ Ngô Minh về Chùm thơ 3 bài của Nguyễn Ngọc Hạnh…

Đọc Nguyễn Ngọc Hạnh tôi phát hiện ra một sự lạ: Thân xác anh thì ở phố với vợ con và công việc, còn hồn thơ thì lại lang thang dọc những làng quê. Thơ Hạnh thủ thỉ về ngôi làng bên sông nơi mình sinh ra, về cuộc tình nơi làng mía, về mùa hoa đỏ ven sông, về anh nông dân “Người và hạt giống sinh đôi”, về các em học trò nghèo…Một đêm hạn “đợi mưa” ở làng, trong anh bật lên những câu thơ đứt ruột:

“Vét cạn lòng giếng ấy
Chỉ nghe tiếng gàu rơi…. ”

Những làng quê Việt bao đời nay đã bồi đắp da thịt , hồn vía cho không ít nhà thơ, trong đó có Nguyễn Ngọc Hạnh. Họ tự nguyện gắn bó số phận mình với làng quê, nơi “ Xưa tôi sống trong làng- Giờ làng sống trong tôi”…    Ngô Minh

                                                                                                                        

TÔI ĐI TÌM EM

Tìm em, tôi đi tìm em
Chưa kịp nhớ đã quên đường rôì
Miá dày như bắp làng tôi
Nghe gió thôỉ, đi rồi lại quên

Em lối dưới, tôi lối trên
Em đi xuống, tôi lên cuôí hàng
Đi dọc rồi lại rẽ ngang
Tìm đâu ra giưã làng mía xanh

Chiều lên làng miá mông mênh
Tìm em, nhớ với quên dập dồn
Nhớ trong nỗi nhớ bồn chồn
Lại quên giưã vô cùng, tôi quên.

MƯA BÌNH DƯƠNG

Ngọn gió như lời ai hát
Mênh mông rừng dương âm vang
Chôì xanh lách lên trong cát
Mưa xuống trên dòng Trường Giang

Tôi đi giưã chiều mưa ấy
Nghe cây cỏ noí trong vườn
Chuyện đất và lời cuả nước
Ngọt ngào biển gió Bình Dương

Làng quê những năm chiến tranh
Mặt đất mặt ngườI trơ truị
Số phận đâu chờ may ruỉ
Từ trong cát trắng xanh lên

Muốn noí đôi điều với cát
Mà sao cát vẫn lặng yên
Cháy giưã lòng tôi cơn khát
Trước màu trắng ấy vẹn nguyên

Tôi đi trong chiều bâng khuâng
Tôi đi trong chiều mưa đằm
Cây thắm trên vùng đất mới
Vẫn còn cơn khát nghìn năm.

ĐIỂM DANH

Tôi cầm ngọn lửa trên tay
Ngọn lửa âm thầm cháy đỏ
Soi cho các em để sáng cho mình

Mỗi giờ đến lớp điểm danh
Thừa một chỗ ngồi thiếu người chia lửa
Đêm về khoảng trống cháy khôn nguôi

Lớp học nào lớp học đời tôi
Vắng một giây thôi sẽ không là tôi nữa
Đâu chỉ các em cả người giữ lửa
Cũng sợ tàn rơi rát bỏng tay mình

Đi qua chưa hết cuộc đời
Nói sao cạn tỏ
Ngọn lửa thức cùng tôi thế đó
Đã bao lần tôi tự điểm danh tôi .

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 22, 2007

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 22, 2007

Đời bao nhiêu dáng chảy…

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 22, 2007

copy-of-copy-of-hanh15.jpg    Nhà thơ Thanh Thảo

Thơ cũng có bao nhiêu dáng chảy, như đời. Tôi tìm trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh một dáng chảy. Chúng ta sống vì sự khác nhau, chỉ co cái chết là giống nhau như một câu thơ Hạnh đã viết ” Mỗi người đều có cuộc đời riêng. Nhưng nấm mộ không còn riêng ai nữa”. Trong tập thơ mỏng này, tôi đã nghe ra cái dòng chảy của thơ Hạnh. Dòng chảy của thơ anh âm thầm, không có cái dữ dội của ghềnh thác, những bùng nổ, những gào thét. Nhưng có những tiếng rạn vỡ. Sau những tiếng rạn vỡ ấy là những nén chịu của thơ Hạnh. Cẩn trọng, thành tâm với từng câu thơ khiến thơ anh không dễ dãi. Nhưng sự cẩn trọng cũng làm nên một số đọan thơ hơi tròn, hơi đủ ý. Thơ cần sự thiếu hụt, có lẽ để khao khát, để có cảm giác hẫng như trong bài thơ “ Đợi mưa” Hạnh đã thể hiện được. Gắn bó một cách tự nguyện số phận mình với đồng quê, với những lam lũ của người nông dân, khắc khỏai trong tình thương yêu những em học trò nhỏ, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh chinh phục tôi bởi sự chân thành đến đau đớn, một sự chân thành không nhằm chứng minh cho cái gì.

“Có những đêm tôi nằm thức trắng
Chênh chếch đời một nửa vầng trăng
Trăng nghiêng bóng mẹ trên đầu rẫy
Như gửi niềm đau xuống đất này.”
( Quê mẹ)

Cứ lặng lẽ như thế, con người cũng có thể hòan thành một bi kịch nào đó cho đời mình. “Ai hiểu được dưới vành nón lá – Một mặt trời mọc giữa ruộng sâu “( Nông dân) ; và ai hiểu được , ẩn dưới vành nón lá kia là những bi kịch của một kiếp người . Phía sau vẻ bình thản, phía sau những khúc nhạc đồng quê, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh ẩn chứa nhiều đau đớn. Khi khúc “ hòa âm điền dã” đã bị những tiếng rạn vỡ rất nhỏ phá vỡ hòa âm, có thể thấy thấp thóang một dòng chảy khác từ nơi dòng chảy cũ. Thơ cũng có thể đổi dòng, như chính dòng sông, như chính cuộc đời. Nào ai biết những đổi dòng lặng lẽ ấy sẽ đưa tới cái gì? Tôi nói với Hạnh :” Có thể anh sẽ viết khác, sẽ viết nữa. Nhưng anh cứ soi mình vào tập thơ đã viết, anh sẽ thấy gương mặt mình cũng đang âm thầm thay đổi.” Cái kỳ lạ của thơ là anh có thể soi vào chính những dòng thơ của mình, cái “dáng chảy” của thơ mình, và một lúc nào đó, anh chợt thấy gương mặt mình đã thay đổi. Thơ sống được nhờ có người ”soi vào” nó. Có khi nhiều người soi.

“Đời bao nhiêu dáng chảy
Sông chỉ một dòng thôi.”

( Sông tôi)

Mà cái “ một dòng” ấy cũng đang thay đổi con sông của đời tôi vậy !

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 22, 2007

Một dòng sông lặng lẽ theo người

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 21, 2007

picture-080.jpg                                 Hồ Sĩ Bình

Giêng hai, tôi về ngồi lại bên sông Vu Gia. Bên một bến đò đất lở dọc bên biền bãi dâu xanh. Con sông bỗng dưng lạ lùng đến không ngờ. Bất chợt trong mưa dông, tôi bỗng nhìn thấy một người vẫn ngồi dưới mưa, đăm đăm nhìn sông và không nói gì. Người ấy chính là nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. Anh ngẩn ngơ điều gì không biết khiến tôi nghĩ đến câu chuyện Giòng sông của Herman Hesse , kể chuyện một người miệt mài ra đi đến tận chân trời để tìm cho mình một nơi để trú ngụ tâm hồn. Khi chợt nhận ra cuộc phiêu du kia chỉ là lầm lạc vong thân, anh trở về ngồi lại bên dòng sông kia để chỉ ngồi soi bóng. Và từ đó, anh chợt nhận ra chính mình. Con sông Vu Gia chính là nơi chốn ra đi, và trở về ấy của Nguyễn Ngọc Hạnh :” Chỉ một điều giữa câu thơ tôi viết. Con sông quê, bóng núi cứ chập chờn”.

Hình như ai đó đã viết:” Em cứ nhận phần em bên lở. Và phù sa bãi bờ là sóng vỗ đời anh”, Nguyễn Ngọc Hạnh day dứt đến gần gũi , anh nhận ra một điều từ máu thịt của dòng sông quê nhà “ Ngày em đi hoa đỏ dòng sông. Nhớ khi bồi , thương hơn ngày lở. Không ai hát người ơi, người ở. Mà dòng sông nấn ná đừng về”.

Cũng chính vì sự yêu mến đến tận cùng, dòng sông không chỉ là nỗi niềm đau đáu mà xa hơn là sự khẳng định thái độ sống giữa đời: ” Đời bao nhiêu dòng chảy. Sông chỉ một dòng thôi”.

Tôi hiểu trong sự lựa chọn dứt khóat ấy của Nguyễn Ngọc Hạnh là sự tâm huyết đầy trách nhiệm với thơ ca, cho dù có sự lựa chọn nào không đau đớn, mất mát: ” Khi có thơ in lần đầu. Tôi tìm tên tôi trên bài thơ ấy. Đến bài thơ cuối đời. Tôi đọc lòng tôi vậy.”

Hành trình đi vào thơ không những phiêu lưu mà còn sự dũng cảm cô đơn đến nặng lòng của thi sĩ, vì thế bản thân anh phải tự trấn an, vỗ về, nhưng đáng quý là sự chấp nhận một “ cuộc lũ” đầy tính định mệnh.

Mỗi người mỗi tạng, thơ của Hạnh không ầm ĩ, phức tạp . Anh đến với mọi người bằng sự khiêm tốn đáng mến, kín đáo tâm tình, bày tỏ đôi khi trở thành đơn giản. Nhưng hãy nhớ một điều “ Phải có sự táo bạo đặc biệt, đó là sự táo bạo dám đơn giản” ( Matrinov).

Trong thơ, Hạnh cảm nhiều hơn nghĩ, thích lặng yên hơn lý giải bởi vì tâm hồn anh qua bao dâu bể, nắng hạ thu đông, mưa nguồn chớp biển vẫn trong trẻo một tiếng lòng khẩn thiết và xao xuyến: “Vét cạn lòng giếng ấy. Chỉ nghe tiếng gàu rơi”.

Vâng, chỉ là tiếng gàu rơi trong thẳm sấu hun hút của hồn người nhưng đọc anh, tôi vẫn thấy hạnh phúc. “Tôi đi trong chiều bâng khuâng. Tôi đi trong chiều mưa dằm. Cây thắm trên vùng đất mới. Vẫn còn cơn khát nghìn năm”. Tôi lặng người đi với từ “mưa dằm”. Nó vừa diễn đạt hòan cảnh, vừa biểu hiện tâm trạng. Có một chút gì như chơi vơi xao xác, lại thắm thiết tình yêu giữa người và đất. Đặt trong sự phát triển cấu tứ của tòan bài, nó nửa bình yên, nửa như xốc tới của một khát vọng.

Nếu được trọn trong ”Khi xa mặt đất”, tôi sẽ giữ cho mình bài “Điểm danh”. Trước hết, có lẽ vì sự đồng điệu. Tôi cũng có một thời dạy họcnên hiểu tâm trạng của một người thầy khi đến lớp – quan hệ giữa thầy giáo và học sinh là một sợi dây giao thoa và cộng hưởng để mỗi thành viên hòan thiện nhân cách của mình. Mối quan hệ đó dần dần trở thành tình cảm và lỡ ai đó vắng mặt thì thật sự để lại một khỏang trống lớn trong không khí lớp học. Hình ảnh “ điểm danh” tưởng như khô cứng ấy, trong thi pháp Nguyễn Ngọc Hạnh bỗng trở thành một bước đột phá ngọan mục cho thơ anh. Từ hình ảnh “thắp lửa” của người thầy đến”chia lửa”, “giữ lửa” với mọi người đều mang một ý nghĩa biểu tượng rất cao: “ Ngọn lửa âm thầm cháy đỏ. Soi cho các em cũng để sáng cho mình…”:

“Mỗi giờ đến lớp điểm danh
Thừa một chỗ ngồi thiếu người chia lửa
Đêm về khỏang trống cháy không nguôi

Lớp học nào lớp học đời tôi
Vắng một giây thôi sẽ không còn tôi nữa
Đâu chỉ các em là người giữ lửa
Cũng sợ tàn rơi rát bỏng tay mình”

Để rồi, tứ bài thơ bật lên lan toả vào lòng :
“…Ngọn lửa thức cùng tôi thế đó
Đã bao lần tôi tự điểm danh tôi”

Thời chiến tranh, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm dứt từng khúc ruột viết ra những câu này: “ Phấn thì trắng và máu thì lại đỏ. Nên làm sao thầy vẽ nổi lòng con…”. “Điểm danh” không chỉ có giá trị về sự khám phá đề tài mà nó khắc họa , định hình một cách nhìn mới về môi trường giáo dục . Đặc biệt ở mặt cấu tứ lạ và bất ngờ.

Không có một khỏang đời nặng nợ với cửa Khổng, sân Trình, chắc Hạnh không viết được những dòng thơ đầy sức lay động và chân tình đến thế. Đọc “Khi xa mặt đất”,  tôi lại nhớ quay quắt về dòng sông Vu Gia. Nếu lúc này về được bến sông kia chắc tôi sẽ khám phá thêm đôi điều mới lạ về thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh. Con sông ấy vẫn còn nhiều bí ẩn vì đối với anh, nó vẫn lặng lẽ theo người , như một người tình chờ đợi mãi bên một vùng dâu xanh biếc.

Về đâu khi xa mặt đất

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 21, 2007

 

                                                                                                                                                                    Nguyễn Nhã Tiên

Nguyễn Ngọc Hạnh trao cho tôi bản thảo tập thơ “Khi xa mặt đất “ của anh vào những ngày anh đang chờ giấy phép xuất bản . Những ngày ấy tôi đang lặn lội công việc ngòai Huế. Dù vậy, tôi vẫn đọc và rút ra đôi điều gì đó để góp một tiếng vỗ tay cùng bè bạn. Nhưng có khi, một lời yêu thương chân thành chưa đủ sức làm nên một cái “ mác “ lộng lẫy màu sắc.Vậy thì tôi viết điều gì cho thơ Hạnh đây. Nhà thơ Thanh Thảo đã có một nhận xét gần như tổng quát về thơ Hạnh : ”….Dòng chảy của thơ anh âm thầm, không có cái dữ dội của ghềnh thác, những bùng nổ, những gào thét. Nhưng có những tiếng rạn vỡ…”
Thực ra bùng nổ, gào thét hay rạn vỡ cũng đều cất lên những thanh âm. Chính những thanh âm có đủ sức khảm khắc vào lòng người, lay động lòng người mới là thanh âm của thơ đích thực .
“Chưa hiểu hết mưa nguồn
Tôi đi về phía biển …” ( Làng )

Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh là như thế, mới thóang qua chẳng bầm ruột, tím gan ai hết. Hoặc là:
“Vét cạn lòng giếng ấy
Chỉ nghe tiếng gàu rơi . ” ( Đợi mưa )
Những thanh âm ấy thảng thốt tưởng chừng như vô cảm, vang vọng bàng hòang tưởng chừng như dửng dưng. Đó là một dồn nén của chịu đựng và sẽ có lúc bùng vỡ. Thọat nhìn, thơ Hạnh cứ bình bình, thi thỏang mới nổi lên những góc cạnh. Phớt lờ, cứ chảy, cứ đi trên một hành trình bất an , cúi mặt . Cô đơn, quê mùa với cái dáng kiểu “Ta đi, ta đi tìm nơi vắng vẻ”. Chính từ cái “vắng vẻ” ấy, ta lại nghe ra những tiếng kêu xao xác của một tiếng gà gáy ban trưa như tiếng thảng thốt sắt se, kêu cứu về những bi kịch của sự vong thân. Về nỗi đau đời hằng cứu những thân phận, những lời ru có nguy cơ mai một:
“Sẽ không còn lặn lội bờ sông
Những cánh cò trong lời ru của mẹ
Mới viết được đôi dòng như thế
Bỗng bàng hòang gặp lại nỗi đau xưa “( Không đề)
Tôi vẫn thường nói với Hạnh , có thể thơ như thế, Hạnh chưa viết, chưa đẩy cảm xúc đến chỗ phát tiết. Hoặc là tỉnh táo làm chựng dòng cảm xúc. Sự tỉnh táo, e dè có khi giết chết một bài thơ. Nó như một cố ý điều chỉnh, nắn nót. Thơ thì cứ rút ruột mà tuôn ra , chứ đừng vắt não tủy nặn ra từng ý đồ, từng con chữ khó nhọc. Hãy yêu hết lòng, hãy cười hả hê và khóc cũng hả hê. Bởi những lúc ngồi trước trang thơ, đích thực là những lúc ta “ …xa mặt đất”. Là lúc chưa hiểu hết mưa nguồn mà con mắt cứ lơ ngơ về cái phương biển mênh mông say sưa lầm lụi bước. Đó không phải là thuộc tính khả niệm mà là sự hiện hữu của tôi và thế giới hiện hữu. Chính tương quan đó sẽ khai sinh ra những khỏanh khắc cho cái tôi thi sĩ cất cánh bay lên. Còn giọng cao hay giọng trầm. Biết làm sao , khi cùng một cơn mưa, có thể cho người kia niềm vui, lại cho kẻ khác nỗi buồn. Vậy thì hãy đi đến tận cùng niềm cô đơn của mình để khảm khắc niềm hy vọng thi ca vào rủi may của cuộc đời này. Một lời góp nho nhỏ – chớ vội chóa mắt trước những hào quang mà quên đi hoa cỏ thơm tho ven đường .      

                                                                                                                                                                                                              hanh16.jpg    

Chỉ một dòng vô tận, con sông thơ ấy !

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 21, 2007

hoian-hn.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh, trước khi làm báo, anh là người từng gắn bó với thơ hơn ba mươi năm qua. Ngòai những tập thơ in chung và những bài thơ in trong các tuyển thơ trong nước, “Khi xa mặt đất” là tập thơ đầu tiên của anh do Nhà xuất bản Đà nẵng ấn hành năm 1997. Người đọc và bạn bè trông chờ ở tác phẩm này như một tổng kết nửa chặng đường thơ của một người làm báo ở tuổi ngòai bốn mươi , chân quê và lặng lẽ.

Nguyễn Ngọc Hạnh sinh ra từ đầu nguồn của một làng quê Quảng Nam bên dòng Vu Gia, Đại lộc, với núi non điệp trùng bao bọc cái làng nhỏ bé, nơi anh tắm mát tuổi thơ của mình, có lẽ vì thế mà hình ảnh những đường làng, sông quê, rừng núi cứ ám ảnh không nguôi.

“Cái làng ấy ra đi cùng tôi
Mà tôi nào hay biết
Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết
Con sông quê bóng núi cứ chập chờn
Xưa tôi sống trong làng
Giờ làng sống trong tôi.” ( Làng)

Những năm gần đây, có nhiều nhà thơ, nhà văn chuyển sang các cơ quan báo chí, mỗi người có dáng vẻ riêng của mình. Nguyễn Ngọc Hạnh cũng vậy, anh mang một dáng chảy của đời thường để giữ mình không tầm thường trước bao biến động, anh không gào thét , mà lặng lẽ thành tâm với cuộc đời như nhận xét của nhà thơ Thanh Thảo đã viết về anh.

Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bình dị, chân chất như muốn bày tỏ với người đọc về nỗi đau của kiếp người, những khát vọng muôn thuở về tình yêu và cái đẹp vĩnh cửu:

“Sẽ không còn lặn lội bờ sông
Như cánh cò trong lời ru của mẹ
Mới viết được đôi dòng như thế
Bỗng bàng hòang gặp lại nỗi đau xưa.” ( Không đề)

Hay trong một bài thơ khác in trong tập này như một lời bày tỏ về số phận : “ Vầng trăng hư ảo trong chiều, dạt trôi và dạt trôi nhiều, dạt trôi. Hòang hôn ngậm cỏ cùng tôi, bóng trăng xa có ngậm ngùi bóng ai” ( Trăng và bóng)….Có lẽ, ngòai tâm sự về một làng quê, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh còn mang nhiều mong đợi về một biến đổi nào đó làm cho con người sống gần hơn và lương thiện hơn.

Là một người làm thơ, viết báo, Nguyễn Ngọc Hạnh còn tiếp tục đi và viết, đi và tìm trong lẽ đời những ngọt bùi lẫn cay đắng, mong anh sẽ không lẫn vào ai, sẽ giữ mình không đuối sức trước bao biến động của đời thường, để hy vọng “Khi xa mặt đất” vẫn còn dáng chảy của anh và của dòng sông :” Đời bao nhiêu dáng chảy. Sông chỉ một dòng thôi” ( Sông tôi).

“Chỉ một dòng vô tận “ con sông thơ ấy.

H.H.Q

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 20, 2007

Trò chuyện với nhà thơ Xuân Sách .

Trò chuyện với nhà thơ Xuân Sách .

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 20, 2007

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 20, 2007

Hoa và dòng sông

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 20, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh

Ngày em đi hoa đỏ dòng sông
Nhớ khi bồi thương hơn ngày lở
Không ai hát người ơi người ở
Mà dòng sông nấn ná đừng về

Anh gởi em mây trắng Thu Bồn
Sóng xô chiều Cưả Đại
Câu hát Quảng Nam điệu hò xứ sở
Lời ru buồn nhỏ nhẹ bến bờ xa

Anh gửi em sương sớm đầy hoa
Đường làng cũ một thời chung bóng
Những trưa nồng đu đưa tiếng võng
Em một mình giấc ngủ vườn cây

Anh gửi em giữa nuí và mây
Chiều nghiêng bước chân hao gầy
Gửi câu hò qua sông trôi dạt
Em mang về bận bịu đắm say

Anh gửi em đời mẹ nhọc nhằn
Thương con sớm chiều vất vả
Mẹ sinh ra trong rơm rạ
Nên hương đồng còn thơm mãi đời anh

Em như ngọn gió lành
Gửi về đâu cũng hoá thành dòng sông.

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 20, 2007

Về quê

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 20, 2007

p1010115.JPG

Nguyễn Ngọc Hạnh

Không còn rét ngọt mưa trong
Ngày xưa biết có chờ mong bây giờ
Qua sông ngôì nhớ con đò
Nhớ hòang hôn lẫn câu thơ ban chiều

Không còn ấp úng lời yêu
Mình tôi ngồi nhớ bao điều xa xôi
Nhìn dòng sông nước cuốn trôi
Thời gian chảy mãi về nơi vô cùng

Con đò năm ấy còn không?
Mà sao bến cũ vẫn trông theo người
Bây giờ tôi với mình tôi
Dọc bờ sông nắng bên đồi mong manh

Không còn thì thôi xin đành
Người ơi tôi cúi hôn mình trên sông.

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 19, 2007

hanh26.jpg

Lớp viết văn đầu tiên sau ngày 29.3.1975

Hạnh phúc

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

                                                                                                                  

                                                                                                                                                                                    hanh28.jpg     Đêm trăng bên mộ Hàn Mặc Tử

Nguyễn Ngọc Hạnh

Còn lại gì trong tôi đêm nay                                                                                                                                                                                                             Sự tĩnh lặng của chút nắng cuối ngày                                                                                                                                                                                                 Không níu được hoàng hôn trở lại !

Những hạnh phúc đi qua
Giấc mơ dịu dàng êm ái đi qua
Như ánh pha lê mỏng manh dễ vỡ

Hạnh phúc của những ngọn sóng
Vỗ mãi thời gian vọng bến bờ
Để một ngày sóng dội vào thơ

Tôi bên đời như chiếc bóng
Chở che hết nỗi đời em?
Một chút mưa thơm lay động hồ đầy!

Em đi qua như áng mây bay
Không rực rỡ cầu vồng bảy sắc
Mây in đời em vào tôi xanh biếc

Em, bầu trời tình yêu của tôi                                                         
Mênh mông lời của biển sâu
Là câu thơ lấp lánh giữa đời
 

Em là bốn mùa hạnh phúc
Đã cho tôi đắm say, mật ngọt
Cho tôi hơi ấm nồng nàn…

Chưa đi qua hết đò ngang    

Làm sao hiểu đời sông dọc…

 hien4.jpg 

                             

Lục bát qua sông

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Thôi dào dạt lại dịu êm
Nửa như đuổi bắt nửa tìm đến nhau
Biết tìm đâu giữa mai sau
Bóng trăng như bóng em ngày qua sông

Chiều nghiêng nửa phố chiều trông
Phố như tranh vẽ xao lòng đò ngang
Nét non tươi đẫm mơ màng
Ẩn trong dấu vết thờI gian chưa mờ

Chiều buồn phố rất nên thơ
Qua sông mà cứ mong chờ hòang hôn
Chiều lên nửa phố chiều trông
Người đi từ phía bão giông chưa về!

Tảo tần đời mẹ chân quê
Bao năm lặn lội đi, về triền sông
Nón che không hết mùa đông
Phố che không hết nỗi buồn trần gian

Soi bóng mẹ xuống sông Hàn
Trời không xanh vẫn sáng trong một màu
Biết tìm đâu giữa mai sau….!

Bài thơ trên cao

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

bana_nay_0011.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Có một nơi mờ sương trên cao
Đường đèo cong và đầy gió lộng
Chiều xuống mơ màng bên dốc núi
Mới huơ tay ngỡ chạm phố rồi

Đà Nẵng nơi này thức cùng tôi
Để tường tận về một Đà Nẵng khác
Trăng Bà Nà mong manh trôi dạt
Giữa rừng sao lấp lánh phía sông Hàn

Có một đêm không ngủ với rừng
Chúng tôi ngồi tựa lưng vào ngọn lửa
Gối đầu vào bờ vai núi Chúa
Hát suối Mơ nhớ dòng Lỗ Đông

Đà Nẵng nơi này gió se lòng
Mây dưới chân đồi như dòng sông
Ai đứng bên kia bờ Vọng Nguyệt
Trăng ngàn năm cũ nay còn không!

Mới một ngày biển đã chờ mong
“Rừng núi dang tay nối lại”
Lời ca bao năm rồi vọng mãi
Bạn bè tôi ngồi hát với biển Đông

Có một đêm ăn ở với rừng
Tâm hồn trở nên trinh bạch.

Không đề 2

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

hanh2.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh

Khi có thơ in lần đầu
Tôi tìm tên tôi trên bài thơ ấy
Đến bài thơ cuối đời
Lại đọc lòng tôi vậy.

Nông dân

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

 

 

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Sớm nắng chiều mưa lặng lẽ
Dầm chân dưới ruộng sâu
Qua hết một đời như thế
Người và hạt giống sinh đôi

Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Ấy chỉ là câu hát
Chuyện về người chân đất
Mênh mông chân trời

Ngày nắng với đêm mưa
Người nông dân bốn muà nghiệt ngã
Ai hiểu được dưới vành nón lá
Một mặt trời mọc giưã ruộng sâu

Ngày dài và đêm thâu
Con kênh xanh chảy qua vùng cát trắng
Thương tuôỉ thơ mình xa vắng
Cháy khô ngọn cỏ trên đồng

Ai nằm thức với cơn giông
Ngọn gió dập dồn, gió thôỉ
Đêm nay còn ai chưa ngủ
Nghe luá rung nhịp đập tim người

Con tôi còn ngủ trong nôi
Lời ru đọng giọt mồ hôi trên đồng
Tôi ngồi ru giữa cơn giông

Lòng tôi thức với nỗi lòng nông dân .
 thuhoach2.JPG

Điểm danh

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Tôi cầm ngọn lửa trên tay
Ngọn lửa âm thầm cháy đỏ
Soi cho các em để sáng cho mình

Mỗi giờ đến lớp điểm danh
Thừa một chỗ ngồi thiếu người chia lửa
Đêm về khoảng trống cháy khôn nguôi

Lớp học nào lớp học đời tôi
Vắng một giây thôi sẽ không là tôi nữa
Đâu chỉ các em cả người giữ lửa
Cũng sợ tàn rơi rát bỏng tay mình

Đi qua chưa hết cuộc đời
Nói sao cạn tỏ
Ngọn lửa thức cùng tôi thế đó
Đã bao lần tôi tự điểm danh tôi.

copy-of-hanh9.jpg

Tác giả năm đầu tiên đi dạy học .

Đêm xa

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

p1010135.JPG

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Tặng em

Đêm xa nằm nhớ mưa nguồn
Nhớ em phố núi sương buồn đầy sương
Ngựa hoang nằm nhớ con đường
Mình anh chăn chiếu mà thương lấy mình.

Đi tìm

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Không còn sớm để chờ
Hoa nở và đêm tàn
Em không vội vàng
Muà xuân vẫn đến

Hãy nở hết những muộn mằn đời em
Hãy toả hết hương thầm thời thiếu nữ
Chiều ba mươi hoa ngào ngạt bên đường

Như tôi rồI giông tố mười phương
Cũng lỡ thì thân trai chìm nôỉ
Đâu riêng em thân cò lặn lội
Nứt
Nở đời tôi
Beò bọt đời sông

Bao năm em đi tìm chồng
Mòn moỉ môi hồng má phấn
Em tìm ai lẻ bóng
Tôi tìm ai lạc giưã vô thường
Tôi tìm người lưu lạc màu sương

Không còn sớm để chờ
Hoa nở và đêm tàn
Em đâu rồI trời sắp vào xuân
Về bên bếp lửa hồng sưởi ấm
Ngập ngừng khơi dậy những tàn tro

Em nghiêng ngưả bóng con đò
Tìm đâu ra một bến bờ dừng chân
Còn tôi ngửa mặt phong trần
Tìm câu thơ gửi trời gần đất xa.

Không đề 1

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Sẽ không còn lặn lội bờ sông
Như cánh cò trong lời ru cuả mẹ
Mới viết được đôi dòng như thế
Bỗng bàng hoàng gặp lại nỗi đau xưa.

Giả vờ

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

 dunghien24.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Có mấy người yêu nhau đâu
Bờ sông chìm giưã bờ lau mất rồi
Lắm điều nhiều giả vờ thôi
Giả vờ trăng gió, vờ ngồi với nhau

Mắt nhìn nước chaỷ qua cầu
Tưởng hình nhớ bóng dạ sầu phương xa
Nẻo này ai chẳng đi qua
Bàn chân dẫm nát cỏ hoa lối về

Lúc như tỉnh lúc như mê
Cỏ và hoa giưã bốn bề nhện tơ
Ai hay mưa nắng tình cờ
Ai hay tôi cũng giả vờ với tôi.

Khi xa mặt đất

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

xadat2.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Khi rời xa mặt đất
Tôi bồng bềnh trong mây
Biển xanh xa vời vợi
Con đường sợi chỉ tay

Lướt qua bao nuí thẳm
Lướt qua mấy đồng xanh
Ngỡ sẽ lướt qua hết
Mọi âu lo gập ghềnh

Giữa trời xa mông mênh
Thấy đời thêm gần lại
Mặt đất dễ đâu quên
Nuôi hồn tôi xanh mãi

Có thể bay xa hơn
Có thể bay cao hơn
Đến xanh thẳm tầng trơì
Nhưng làm sao xa được
Những vui buồn đời tôi.

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Sông tôi

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Tôi đến với dòng sông
Như đến với ngọn nguồn
Sông khác gì lòng mẹ
Chảy dọc suốt đời tôi

Tôi đến với dòng sông
Như thể đến cùng em
Bài thơ tình dịu ngọt
Tôi uống cạn môi mềm

Tôi đến với dòng sông
Là đến với lòng tôi
Đời bao nhiêu dáng chảy
Sông chỉ một dòng thôi

Chỉ một dòng vô tận
Qua lưng núi chân đồi
Qua bao nhiêu ghềnh thác
Như mỗi ngày đời tôi

Như là em là mẹ
Đến với tình yêu tôi
Sông muôn đời vẫn thế
Một dòng xanh êm trôi.

Lời ru

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Lời ru biết gửi về đâu
Tôi ru trăng lạnh đêm thâu ru mình
À ơi một cõi phù sinh
Ru cho trời đất thấu tình biển sâu

Em ru lời của bể dâu
Còn tôi biết gửi về đâu nỗi lòng
Ơi à sáng nhớ chiều mong
Ngồi ru tiếng khóc lịm dần trong mơ

Ru con hết một đời thơ
Ru em bao nỗi bơ vơ lặng thầm
Mai này còn chút tri âm
Mình ru cho hết thăng trầm mới thôi

Lời ru dìu dặt xa xôi
Cùng trăng rơi xuống bên nôi đêm rằm
Thơ tôi làm chiếu con nằm
Một đời rút ruột thân tằm chờ con

Ru cho trời đất vuông tròn
Ru cho nước chảy đá mòn trùng khơi
Một mai con lớn nên người
Biết đâu tôi lại ru tôi một mình.

Ước gì

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

       Nguyễn Ngọc Hạnh

     

      Ước gì vài phút giây thôi

      Đóa hồng kia ép vào tôi dịu dàng

      Mỏn đời đâu dễ gì Xuân

      Nên em cùng với nỗi buồn, là tôi !

     p1010479.JPG   .

Dưới trăng cùng Kazik

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Ông ngồi lặng yên không nói gì
Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông
Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn

Tôi đâu có nói gì cùng Kazik
Mà sao đền tháp cứ nhìn tôi
Mà sao vũ nữ Chăm ngưng múa hát
Thần Shiva níu thời gian trôi dạt

Ông chạm vào đá hồi sinh
Những mất đi, sanh nở
Dưới lớp rêu mờ tỏ
Lấp lánh hơi ấm bàn tay Chămpa trong đó

Những đền tháp và những vụn nát
Giữa thung lũng trần gian
Như con tò vò chằm vá cần mẫn
Nỗi niềm say mê tạo tác

Phải chi tôi đừng nói gì
Vầng trăng kia sẽ trò chuyện cùng ông
Cổ tháp kia sẽ lặng lẽ cùng ông
Về những đổ vỡ trinh bạch
Những vụn nát đền đài

Ông ngồi lặng yên không nói gì
Nhìn vầng trăng trên tháp
Tạc câu ca Chăm lên ngực
Chạm vào điệu múa đất đai

Làm sao có thể kiệm lời
Trước thần Shiva và tượng mất đầu
Giữa hằng hà thiện ác.

Giao thừa

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Rồi ngày qua đêm sẽ trôi
Mùa xuân ở lại cùng tôi phút này
Như là ngọn cỏ bờ cây
Giao thừa đêm với rạng ngày mới lên

Giao thừa tôi với đời em
Lời yêu tách vỏ tiếng chim ra ràng
Đêm xuân hoa cỏ trần gian
Đưa em về giữa đường làng cùng tôi

Phút này rồi cũng xa xôi
Tôi giao thừa với lở bồi đêm xuân
Em là hoa giữa mờ sương
Tôi như giọt nắng tơ vương bên trời

Rồi ngày qua đêm sẽ trôi
Mình tôi ngồi lại cùng tôi giao thừa.

Biển lặng

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Khi biển lặng yên rồi mới hiểu
Cơn sóng đi qua bờ bến đâu còn
Tất cả đắm chìm trong giông bão
Ai biết cánh buồm trôi dạt về đâu!

Tôi như người vừa tỉnh cơn say
Vừa bước ra từ giấc mơ biển cả
Mới chợt hiểu giữa bao điều kỳ lạ
Biển cũng buồn, có êm ả gì đâu!

Một mình ngồi với biển chiều nay
Biển vẫn là em, sao bơ vơ quá
Biển cùng em, một thời sóng cả
Bây giờ còn lại chỉ hoàng hôn?

Còn lại tôi vụn nát cánh buồm
Trôi về phía bến bờ vô định
Biển vẫn muôn đời không yên tĩnh
Lặng yên rồi, sóng gió lại trào dâng

Ai ra khơi dù chỉ một lần
Mới hiểu hết thăng trầm của biển
Để có được những ngày tĩnh lặng
Thì sá gì giông tố, biển ơi.

copy-of-dunghien8.jpg

Gửi Hà Nội

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Cứ ngỡ là thu mới yêu Hà nội?
Tôi đi bên em, phố nhỏ mưa đầy
Ngõ vắng chiều trôi êm ả quá
Mùa đông rét ngọt phủ Hồ Tây

Đã bao lần tôi đến nơi đây
Hà Nội cơ hồ như khách lạ
Một chút hồn quê nơi phố xá
Ai bỏ quên cuối vạt nắng chiều

Bây giờ xin được ngỏ lời yêu
Xin gửi lại tâm hồn tôi ở đó
Nơi mẹ ru em thời thơ ấu
Là nơi tôi ngồi hát ru mình

Có ai ngờ một sắc trời xanh
Mà tràn ngập hồn tôi mây trắng
Cuộc đời em còn đâu tĩnh lặng
Ngọn gió đi qua lay động hồ đầy

Đến một lần rồi ở lại nơi đây
Ngõ phố ngày xưa em tan học
Để tìm lại cô bé ngồi kẹp tóc
Để mà yêu Hà Nội đến nao lòng

Mai xa rồi, em nhớ gì không?
Xin gửi lại hồn quê tôi nơi ấy
Mỗi đời sông có bao nhiêu dòng chảy
Một dòng trôi về phía đời em .

scan0004.jpg

Mưa ở Huế

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh

Mưa và em
với sân ga
Bỏ quên tôi dưới mưa và bóng tôi
Bỗng dưng
Đi nhớ một người
Nhớ câu thơ cũ
của thời mộng mơ

Mới hay giây phút tình cờ
Mãi nôn nao
đến bây giờ, sân ga
Rồi ngày mai em chia xa
Tàu ơi, mưa cứ nhạt nhoà lòng tôi

Cỏ cây
Và chỗ em ngồi
Là sân ga nhỏ
giữa đời quạnh hiu.

Một ngày

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Ngóng trông
Thôi đã một ngày
Tôi bơ vơ
giữa đắm say nhớ người
Chiều rơi nhỏ nhẹ
chiều trôi
Mình tôi
đầy ắp khoảng trời không em

Mới thôi
mà đã qua đêm
Trăng treo hao khuyết
Êm đềm trong mơ
Nửa em lục bát mong chờ
Nửa tôi đơn lẻ câu thơ lạc vần

Đi tìm một nửa phân vân…
Bể dâu em,
Ngại phong trần đời em?
Gió lay ngọn cỏ bên thềm
Em bơ vơ
giữa trời đêm cõi người

Xin cho tôi mãi là tôi
Là một nửa
của một đời phù dung
Mới thôi, em đã vô cùng
Đêm mong,
Ngày lại ngóng trông nỗi buồn.

Cơn gió tình cờ

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

picture-154.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh

Nửa như thực nửa thì huyền ảo
Em lung linh ẩn hiện giữa đời tôi
Cơn gió tình cờ đêm giông bão
Thổi về đâu lời của mây trời

Thổi vào hồn tôi đêm đầy vơi
Cơn gió đi qua dịu dàng đến thế
Xin uống cùng em lời dâu bể
Ngọt bùi, mặn nhạt có nhau

Hãy rót vào tôi niềm đau
Cho lòng em thanh thản
Rót vào cơn mưa nỗi buồn nắng hạn
Để cỏ non chiều lên xanh tươi

Để em còn ẩn hiện giữa đời
Chiếc bóng nhỏ cơ hồ sương khói
Cơ hồ tôi đi về một cõi
Em hãy tựa vào bóng mát thơ tôi

Làm sao quên một ngày xa xôi
Em, cơn gió mùa thu không lời
Đã thổi vào hồn tôi phút chốc
Đến bây giờ hạnh phúc còn say.

Đôi khi

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 18, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Đôi khi ngồi một mình
Nhớ đêm đông bước chân ai về
Lẻ loi bên bờ sông vắng
Nhớ chiều mưa em đến
Mưa hồng ơi, màu hoa thần tiên

Tôi nhớ cơn mơ ngày yêu em
Ôm làn hương ngọt ngào sương đêm
Ôi cánh hồng ngập tràn hương tóc
Bồng bềnh trôi…

Đôi khi ngồi một mình
Nhớ hơi ấm chiều mưa quán nhỏ
Nhớ em ngày thuận tình
Đời tôi in trên vầng trăng tỏ

Đôi khi nhớ hoài tiếng khóc
Và những giọt nước mắt
Rồi thương em mà đâu biết làm gì
Tôi một mình, lặng lẽ, đôi khi…

Lặng lẽ với giếng sâu
Xin nối sợi dây gàu cho lòng bớt cạn
Tôi múc ánh trăng về làm thơ
Rồi tri âm em mà bầu bạn

Đôi khi muốn làm cây cỏ

Để đoá hồng thêm rạng sắc thôi .


copy-of-dunghien22.jpg

Lặng thầm mà chín vào trong

Posted in Những bài viết về thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 17, 2007

LẶNG THẦM MÀ CHÍN VÀO TRONG

 Nhan sắc

Nhan sắc
Thường do trời ban cho
Người đàn bà coi như báu vật
Họ thường tiêu xài nhan sắc của mình
Tuỳ theo mỗi số phận

Nhan sắc em là giấc ngủ nồng của con
Là sự tảo tần đêm mưa chờ chồng
Là sớm khuya thân cò lặn lội
Một đời dầm dãi gió sương

Nhan sắc em chín lịm vào trong
Như quả ngọt đồng làng
Như tầng tầng câu thơ đa nghĩa
Mơ hồ một cõi mênh mang

Em đâu phải hồng nhan
Mà trời trao phận bạc
Thơ tôi không làm  thêm nhan sắc
Em cứ lặng thầm mà chín vào trong

Trời không cho đời không ban
Em làm nên nhan sắc riêng mình…

   Nguyễn Ngọc Hạnh
  ( Thơ tình Việt Nam TK XX)

 

 “Nhan sắc, thường do trời ban cho
Người đàn bà coi như báu vật’’

Cứ tưởng tác giả nói ra cái điều mà nam phụ lão ấu biết rõ mười mươi như thế này là không kiệm lời nhưng ngẫm sâu ,suy kỹ mới thấy hai câu mở làm tốt sự phân vai người dẫn chuyện  để đi đến kết tứ nâng tầng hàm nghĩa nhan sắc lên một chiều kích khác biểu lộ ý đò nghệ thuật của tác giả:

   ‘’Họ thường tiêu xài nhan sắc của mình 
    Tuỳ theo mỗi số phận’

Thông thường cái gì mà người đàn bà coi như báu vật  thì không bao giờ họ tiêu xài phung phí đã đành mà còn gìn vàng giữ ngọc ghê lắm cớ sao tác giả lại sử dụng động từ ‘’tiêu xài’’ để gán cho họ nhỉ ? Cho dù tác giả có giải thích thêm ‘’tuỳ theo mỗi số phận’’ thì thiển nghĩ những người phụ nữ cũng không chấp nhận đâu! .Rõ đây là một cách nói thách để quý bà quý cô buộc phải thâm nhập sâu vào ngôn ngữ thơ bởi có thâm nhập sâu vào mới  hiểu sự đối sánh các ý niệm  về các hiện tượng của thực tại đã được  tác giả biểu đạt theo lối nghịch dị, hàm nghĩa từ vựng không dừng lại ở cấp độ câu, đoạn mà còn bao quát chỉnh thể  tác phẩm vượt qua lối duy danh định ghĩa thông thường để xuất hiện một nội dung ý nghĩa mới :

‘’ Nhan sắc em là giấc ngủ nồng của con
  Là sự tảo tần đêm mưa chờ chồng’’
   ‘’ Như quả ngọt đồng làng
 Như tầng tầng câu thơ đa nghĩa’’

Thế là ta đã cảm thấu hàm nghĩa phúng dụ của nhan sắc, nó không còn đơn thuần là cái đẹp hình thể mà đã ‘’chín lịm vào trong’’.Tác giả trưng ra hai tấm nhan sắc họ và em đối sánh nhau .Họ không biết dành dụm cái vốn trời ban kia còn em của tác giả đã hoá thân thành đức hạnh ‘’đánh chết cái đẹp’’ hình thể. Có điều tôi hơi phân vân là khi tác giả viết ‘’em đâu phải hồng nhan –mà trời trao phận bạc’’ phải chăng tác giả muốn ca ngợi sự ‘’ lặng thầm mà chín vào trong’’ của em nhưng không khéo có khi sẽ làm em giận mà giận cả đời nữa cơ đấy! .Trời có trao phận bạc chăng nữa thì em vẫn cứ chấp nhận ‘’năm thì mười hoạ hay chăng chớ’’ gồng gánh gian nan chứ tước đi cái hồng nhan thì tôi đoan chắc không một người phụ nữ nào cam chịu .Tước đi cái báu vật ấy thì tạo hoá sinh hạ cái đẹp của nữ nhân còn để làm gì ? .Họ đâu phải hồng nhan thật đấy nhưng phải để họ tự bạch chứ anh nhà thơ mà nói hộ là không xong vơi họ đâu.Nhưng thôi mong quý bà quý cô  cảm thông cho thi sĩ ‘’chỉ vì yêu quá đấy mà thôi’’
  
Tài hoa như cụ Nguyễn Tiên Điền còn phải ‘’Đẻ Thuý Kiều ra từ trái tim mình “(Xuân Diệu) để gửi gấm niềm riêng nữa là  …. ‘’Trời không cho đời không ban’’  thì dù có là anh hay là em cũng phải tự thân vận động làm nên’’ nhan sắc của riêng mình ‘’.Nhan sắc nào mà chẳng phù du tiêu ma chỉ tấm nhan sắc  vắt ra từ trái tim phụng hiến cuộc đời hoạ khi còn có chút cơ may tồn tại…   

Nguyễn Hàn Chung

Cơn mơ hạnh phúc

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 16, 2007

anh-kv2.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh

Khi ánh trăng sắp tan ra trong đêm nguyệt thực
Bầy chim ngủ yên trên cành cũng hối tiếc, bay đi
Bay về phía bầu trờI vô định, bay về đâu trong đêm mịt mù!
Mùi hoa sữa sau vườn cũng bay đi, bay mất ánh trăng
Một chút tàn phai còn lại với mình tôi, giá lạnh

Giấc ngủ vẫn từng đêm chập chờn, không còn mơ thấy gì
Không còn biết ai đã đạp vào cơn mơ hạnh phúc
Đêm cứ thế tan ra, ngày cứ thế trôi qua, tẻ nhạt
Ánh trăng ngày xưa từ đó cũng tan dần…

Khi ngồi nhớ, lại quên ngày mong nhớ
Khi nỗi buồn lấn hết những ngày vui
Không còn biết tiếng chim lạc bầy kêu khản giọng
Bay về đâu khi trăng vỡ tan rồi

Khi em cầm ngọn gió cuối thu
Chiếc lá vàng rơi vào bài thơ tình phai nhạt
Em đừng chạm hồn tôi, một nỗi niềm ẩn khuất
Đâu phải là nơi dừng chân mà chỗ cuối của con đường

Xin cũng đừng bội ước với dòng sông
Nơi ấy vẫn là nơi em đến
Vẫn là suối nguồn chảy ra biển lớn
Là bến sông xưa em neo đậu mưa chiều

Xin đừng vấp tiếng chim kêu
Vỡ tan giai điệu mùa thu mượt mà trong trẻo
Đừng để khi trở về nơi vườn hương cũ
Tiếng chim lạ rồi, mất giọng thơ xưa.

Ảnh kỷ niệm

Posted in Ảnh tư liệu bởi nguyennamtran on Tháng Ba 15, 2007

p1010593.JPG

Nguyễn Ngọc Hạnh với nhà văn Đoàn Xoa.

p1160068.JPG

Nguyễn Ngọc Hạnh với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.

hanh32.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh với nhà thơ Phùng Quán…

hanh33.jpg

… sau đêm đọc thơ lần đầu tiên tại Điện Bàn.

hanh34_4.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh với nhà thơ Hoàng Cầm.

hanh36.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh với nhà thơ Hữu Thỉnh.

hanh38.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh với họa sĩ Chóe.

hanh40.jpg 

Các nhà văn, nhà thơ trước đêm Phùng Quán đọc thơ tại Điện Bàn. Trong ảnh : Nhà văn Nguyễn Văn Xuân, Ngô Thị Kim Cúc, Vĩnh Quyền; nhà thơ Ngân Vinh, Hoàng Minh Nhân, Nguyễn Ngọc Hạnh…

hanh41.jpg

Các nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Hàn Chung, Hoàng Tư Thiện trong ” Đêm thơ nhân ngày Nhà giáo Việt Nam ” năm 80, tại Điện Bàn.

hanh35.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh với nhà thơ Lê Đạt tại Hà Nội.

hanh37.jpg

Đêm giới thiệu tác gỉa, tác phẩm “Trái táo cho EVA” của nhạc sĩ Phan Văn Minh và tập thơ “Khi xa mặt đất” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh tại Tam Kỳ, Quảng Nam.

hanh42.jpg

                       Nguyễn Ngọc Hạnh và nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc tại Hà Nội .

Nhầm một làn hương

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

hhooaa22.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh

Nhầm một làn hương
Đêm nằm không ngủ
Hoa giữa đời thường
Cầm tay bối rối


Ngỡ là sông trong
Ai hay dòng đục
Lỡ tắm một lần
Một đời ray rứt


Ngỡ là hương đồng
Thuỷ chung như đất
Tôi lỡ gieo trồng
Đời tôi trên cát


Nửa đời phiêu bạt
Nhầm một câu thơ
Nhầm dòng sông chảy
Tìm không thấy bờ


Có thể muộn mằn

Giữa bao chìm nổi
Tôi lại tìm về
Đời tôi lặn lôị

Tôi đến với dòng sông

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Tôi đến với dòng sông
Như đến với ngọn nguồn
Sông khác gì lòng mẹ
Chảy dọc suốt đời tôi

Tôi đến với dòng sông
Như thể đến cùng em
Bài thơ tình dịu ngọt
Tôi uống cạn môi mềm


Tôi đến với dòng sông
Là đến với lòng tôi
Đời bao nhiêu dáng chảy
Sông chỉ một dòng thôi
Chỉ một dòng vô tận
Qua lưng núi chân đồi
Qua bao nhiêu ghềnh thác
Như mỗi ngày đời tôi
Như là em là mẹ
Đến với tình yêu tôi
Sông muôn đời vẫn thế
Một dòng xanh êm trôi.

Dưới trăng

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Vầng trăng đầu tháng xa xôi
Dưới trăng cây cỏ cùng tôi sững sờ
Vẫn là cổ tích hoang sơ
Vẫn trăng, trăng cuả bây giờ đó thôi


Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Câu thơ hao khuyết một thời còn đây
Lâu rồi đâu dễ ai hay
Trăng non trăng vẫn còn đầy vầng trăng.

Tiếng gáy

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh

Chim cu cổ cườm
Đuôi dài cánh mượt
Đứng trên ngọn tre
Hấp ha hấp háy


Cong đuôi đứng gáy
Sà xuống cánh đồng
Ăn uống no tròn
Nào ai hay biết


Thương cho thân gà
Hằng đêm thao thức
Canh giờ báo giấc
Cho ngườI ra đồng


Có ích và không
Cùng trong tiếng gáy.

Mưa trong vùng than

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Mưa nguồn mưa ra dòng sông
Người đi trong mưa rừng
Ngày qua ngày thầm lặng
Moi trong lòng đất tìm than

Mưa nguồn mưa ra dòng sông
Lắng sâu như tiếng đàn
Câu thơ trong vùng mỏ
Mang sắc trời Nông sơn

Mưa nguồn mưa ra dòng sông
Người đi trong âm thầm
Như sao trên đỉnh nuí
Như than trong vùng than

Than
Than và than
Một rừng than lấp lánh ánh sao
Trong mắt người vùng mỏ

NgườI đi sâu vào rừng
Than đi ra dòng sông.

Đợi mưa

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh 

Vét cạn lòng giếng ấy
Chỉ nghe tiếng gàu rơi…

Nưả đêm sấm chớp đầy trời
Trên nguồn dưới biển
Sấm dội thẳm sâu lòng giếng
Câu hát mưa nguồn chớp biển
Dội lòng tôi

Gió lên, biển chớp lên rồi
Mà đêm hôm ấy ngoài trời không mưa.

Quê mẹ

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh

Mưa nào buồn như mưa trên sông
Luá nào xanh như luá trên đồng
Em có về quê tôi, em nhớ
Tình trăm năm vun xới cấy trồng

 

Cơn mưa chiều quê mẹ Kỳ Lam
Mưa trắng vùng đất mới
Niềm vui giưã bao ngày mong đợi
Một sắc trời xanh đến bất ngờ

 

Con đường quê dài như đời mẹ
Tuôỉ thơ buồn trôi giưã mù khơi
Mẹ nhớ ai như sông nhớ suối
Sông dạt dào lòng mẹ, đời tôi

 Có những đêm tôi nằm thức trắng
Chênh chếch đời một nửa vầng trăng
Trăng nghiêng bóng mẹ trên đầu rẫy
Như gửi niềm đau xuống đất này

Em có về quê tôi, em nhớ
Mỗi con đường chỉ vưà đủ em đi
Mỗi chén cơm hết hai phần khoai sắn
Nỗi đau này đâu chỉ cuả riêng ai

Em có về quê tôi, em nhớ
Gieo đời em trên những biền dâu
Dâu xanh tốt như tình ta xanh trải
Hạnh phúc là khi trói chặt đời nhau.

Làng

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

copy-of-lua-hagiang.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh

Làng tôi ở ven sông
Bốn bề nuí bốn bề yên ắng
Chưa hiểu hết mưa nguồn
Tôi đi về phiá biển

Qua bao nhiêu phường phố
Thuộc hêt những tên đường
Người trên phố hàng cây và gió
Đều nhận ra tôi dáng dấp làng quê

Cái làng ấy ra đi cùng tôi
Mà tôi nào hay biết
Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết
Con sống quê bóng nuí cứ chập chờn

Xưa tôi sống trong làng
Giờ làng sống trong tôi.

Hoa ven sông

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Nguyễn Ngọc Hạnh

Dọc đường, hoa dọc triền sông
Lẫn trong màu chiều vời vợi
Nón trắng trên đồng luá mới
Mênh mang mênh mang chiều ơi

Nhớ về một thời xa xôi
Có bao người đi không về
Nằm lại ven bờ sông ấy
Thành hoa nở dọc làng quê

Nhớ về, ai không nhớ về
Con đò đêm mưa qua sông
Lời mẹ dập dềnh sóng nước
Bềnh bồng theo nỗi chờ trông
 

Chiều nay, ai về qua sông
Có nghe nôn nao trong lòng
Nhìn hoa giữa ngày xuân mới
Người về lòng có bâng khuâng?

Chiều nay, tôi về qua sông
Rồi mai chia tay lên đường
Khi gặp cành hoa khoe sắc
Lại nhớ về hoa ven sông.

Trăng và bóng

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Vầng trăng hư ảo trong chiều
Dạt trôi và dạt trôi nhiều dạt trôi
Hoàng hôn ngậm cỏ cùng tôi
Bóng trăng xa có ngậm nguì bóng ai

Nuí ngồi đợi đến tinh mai
Tôi ngồi một bóng bên ngoài trùng khơi
Bóng trăng cùng với bóng tôi
Khuất trong bóng nuí gặp lời cổ nhân.

Tôi đi tìm em

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Tìm em, tôi đi tìm em
Chưa kịp nhớ đã quên đường rôì
Miá dày như bắp làng tôi
Nghe gió thôỉ, đi rồi lại quên

Em lối dưới, tôi lối trên
Em đi xuống, tôi lên cuôí hàng
Đi dọc rồi lại rẽ ngang
Tìm đâu ra giưã làng mía xanh

Chiều lên làng miá mông mênh
Tìm em, nhớ với quên dập dồn
Nhớ trong nỗi nhớ bồn chồn
Lại quên giưã vô cùng, tôi quên.

Mưa Bình Dương

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

Ngọn gió như lời ai hát
Mênh mông rừng dương âm vang
Chôì xanh lách lên trong cát
Mưa xuống trên dòng Trường Giang

Tôi đi giưã chiều mưa ấy
Nghe cây cỏ noí trong vườn
Chuyện đất và lời cuả nước
Ngọt ngào biển gió Bình Dương

Làng quê những năm chiến tranh
Mặt đất mặt ngườI trơ truị
Số phận đâu chờ may ruỉ
Từ trong cát trắng xanh lên

Muốn noí đôi điều với cát
Mà sao cát vẫn lặng yên
Cháy giưã lòng tôi cơn khát
Trước màu trắng ấy vẹn nguyên

Tôi đi trong chiều bâng khuâng
Tôi đi trong chiều mưa đằm
Cây thắm trên vùng đất mới
Vẫn còn cơn khát nghìn năm.

Thơ để trên mộ

Posted in Thơ bởi nguyenngochanh on Tháng Ba 15, 2007

p1010084.jpg

Nguyễn Ngọc Hạnh

Mỗi người đều có cuộc đời riêng
Nhưng nấm mộ không còn riêng ai cả
Hoa cuả đất nở trên bia đá
Gởi mai sau lời nuối tiếc ngày xưa.

Trang sau »